Kỷ niệm 65 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ:

2019: Dạt dào cảm xúc trong tôi

Cập nhật: 01/05/2019 11:49

(Thanh tra) - Hơn 41 năm quân ngũ. Giờ đây cận kề tuổi 90. Năm 2019 này, với nhiều ngày lễ kỷ niệm lịch sử vẻ vang, ôn lại quá khứ có mặt trong nhiều sự kiện lớn qua 3 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, bảo vệ Biên giới Tây Nam… lòng tôi dạt dào biết bao cảm xúc.

2019: Dạt dào cảm xúc trong tôi
Nhà thơ Hồ Ngọc Sơn (phải) và nhà báo Dương Đức Quảng. Ảnh: baomoi.com

Kỷ niệm 65 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ và Giải phóng Thủ đô (1954 - 2019), tôi bồi hồi nhớ lại chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 trên chiến trường quê hương Liên khu 5, đã phối hợp hết sức đắc lực, nhịp nhàng, chặt chẽ với Mặt trận Điện Biên Phủ và làm nên một chiến tích vang dội chưa từng có.

Tháng 5/1953, Nava (Henri Navare), Tổng Chỉ huy quân Pháp, vạch kế hoạch ngạo mạn mang chính tên mình: “Kế hoạch Nava” ấn định 2 giai đoạn chiến lược trong vòng 2 năm sẽ lật ngược tình thế chiến trường, chuyển bại thành thắng. Giai đoạn 1 tức Đông Xuân 1953 - 1954, phòng ngự chiến lược miền Bắc, tấn công chiến lược miền Nam, chủ yếu là mở chiến dịch Át-lăng (Atlante) đánh chiếm vùng tự do Liên khu 5.

Sau khi bình định Miền Nam, chuyển sang giai đoạn 2: Thu Đông Xuân 1954 - 1955 rút hết quân tinh nhuệ ở miền Nam đưa ra miền Bắc, tấn công chiến lược trên chiến trường chính, giành thắng lợi quyết định, buộc ta điều đình trong thế lợi của Pháp.

Tướng Đờ Bô-pho (De  Beaufort) chỉ huy chiến trường Tây Nguyên được Nava giao chỉ huy Chiến dịch Át-lăng. Địch hiểu rất rõ Liên khu 5 chỉ có 2 trung đoàn chủ lực là E108 và E803. Chúng tập trung một lực lượng đông hơn gấp 5 lần ta gồm 4 binh đoàn cơ động số 10, 41, 42, GM100 (Groupement Mobile No 100) rút ở Triều Tiên về và 2 tiểu đoàn dù, hòng nhanh chóng chỉ trong Đông Xuân 53 - 54 tiêu diệt sinh lực chủ yếu của ta và chiếm đóng Vùng tự do Liên khu 5 là hậu phương chiến lược vững chắc của quân dân Nam Trung Bộ.

Ngày ấy, Liên khu 5 đứng đầu là đồng chí Nguyễn Chánh, Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Liên khu ủy, Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 5 sáng suốt chủ trương không đánh vỗ mặt, đánh “chọi trâu” sẽ bị tiêu hao lực lượng, mà mở Chiến dịch Tây Nguyên, đánh vào nơi hiểm yếu, chỗ yếu sơ hở của địch để bẻ gãy cuộc càn Át-lăng.

Ngày 20/1/1954, địch khai cuộc từ Khánh Hòa đánh ra chiếm Phú Yên. Chúng không ngờ chỉ sau một tuần, ngày 28/1/1954, ta mở Chiến dịch Tây Nguyên và trong vòng 10 ngày, tức ngày 7/2/1954, ta đánh chiếm thị xã Kon Tum, giải phóng hoàn toàn tỉnh Kon Tum, rung động dữ dội cả chiến trường Tây Nguyên. Chiến cuộc diễn biến quá nhanh ngoài sức tưởng tượng. Được tin, Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện hỏi “có thật không”? Đồng chí Nguyễn Chánh vội điện trả lời: “Tôi và Bộ Chỉ huy đang có mặt ở thị xã Kon Tum và chuẩn bị tiến quân vào Gia Lai”.

Tin vui giải phóng Kon Tum làm nức lòng phấn khởi quân dân ta trên mặt trận Điện Biên Phủ và cả nước.

Nava và Đờ Bô-pho những tưởng chỉ chiếm giữ Phú Yên trong vòng 1 tuần lễ, hoặc mươi ngày sẽ đánh chiếm tỉnh Bình Định, không ngờ bị lực lượng bộ đội địa phương của ta chặn đánh quyết liệt suốt ngày đêm, phải giậm chân tại chỗ hơn 55 ngày đêm, tổn thất nặng nề.

Gia Lai kêu cứu, tình hình bế tắc. Nhưng, để gỡ thế bí, ngày 12/3/1954, Nava liều mạng xua quân đánh chiếm Quy Nhơn - Diêu Trì của tỉnh Bình Định. Không ngờ ngay ngày hôm sau, ta mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ, tiêu diệt Him Lam (14/3), đồi Độc Lập (15/3) và Bản Kéo, tiếp tục khép chặt vòng vây tấn công trung tâm Điện Biên Phủ.

Nava vô cùng hoảng hốt. Một mặt, y lợi dụng ban đêm cho rút hết lực lượng ở Diêu Trì, Quy Nhơn đưa ra tàu biển, một mặt rút 2 tiểu đoàn dù chi viện cho Điện Biên Phủ. Nửa đường đứt gánh. Chiến dịch Át-lăng kết thúc nhục nhã, không kèn không trống vào ngày 6/4/1954. Mưu đồ chiến lược bình định Miền Nam của Nava hoàn toàn phá sản.

Ngày 1/5/1954, Tư lệnh Nguyễn Chánh thành lập thêm trung đoàn chủ lực thứ 3 của Liên khu 5 mang tên E96, nhằm đánh mạnh hơn nữa, chi viện một cách đắc lực nhất cho chiến trận đang diễn ra cực kỳ quyết liệt ở trung tâm Điện Biên Phủ, đồng thời tăng cường lực lượng đủ sức tiến tới giải phóng toàn Tây Nguyên và tỉnh Khánh Hòa khi thời cơ đến.

Thật vui mừng khôn xiết!

Ngày 7/5/1954, Điện Biên Phủ toàn thắng! Cuồng vọng Nava lật ngược tình thế chiến trường tan thành mây khói. Mặc dù vậy, Nava vẫn lệnh cho các chiến trường tiếp tục chiến đấu, cố thủ, bảo toàn lực lượng, tìm thế lợi cho tình hình sắp đến.

GM100 ở An Khê với đội hình gần  250 xe quân sự đều quay đầu hết về phía PleiKu. Tư lệnh Nguyễn Chánh lập tức lệnh cho E96 vượt bằng hết mọi khó khăn, gian khổ, bôn tập tiêu diệt. GM100 là binh đoàn cơ động hiện đại bậc nhất của Pháp, được Mỹ trang bị đến tận răng. E96 mới thành lập, còn thiếu một tiểu đoàn chưa kịp hợp quân, nhưng Trung đoàn Trưởng Nguyễn Minh Châu (tức Thượng tướng Năm Ngà, sau năm 1975 là Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 7) đã nghiêm chỉnh chấp hành lệnh, tổ chức phục kích ở thung lũng Đắc Pơ trên đường 19, phía tây chân đèo Mang Giang.

Sáng 24/6/1954, GM100 rút chạy về Pleiku và lọt hết vào trận địa phục kích của ta. Ta lập tức nã pháo, cối dữ dội, dồn dập vào toàn bộ đội hình địch. Bộ binh từ hai phía Bắc, Nam đường 19 hô xung phong vang dậy, đồng loạt xông lên đánh giáp lá cà. Địch bị đánh bất ngờ, không kịp trở tay, thương vong lớn ngay từ đầu. Chúng chống trả quyết liệt nhưng tán loạn dần như ong vỡ tổ và đến chiều ta hoàn toàn làm chủ trận địa, tiêu diệt GM100.

Địch chết, bị thương 700 tên. Ta cho phép địch ở Pleiku dùng máy bay, xe cứu thương có mang cờ trắng và cờ chữ thập đỏ đến chuyên chở. Địch bị bắt sống 1.200 tên, có tên quan Năm Baru chỉ huy Binh đoàn. Tù binh đông đến mức không đủ dây trói. Chúng xin hàng cả với chị em dân công. Chúng sợ chạy trốn sẽ lạc đường, trúng chông bỏ mạng trong rừng. Chúng ngoan ngoãn ngồi từng đám đông vì biết rõ chính sách khoan hồng của ta.

Đây là trận giao thông chiến lớn nhất trong chiến tranh Đông Dương, kể cả trong đánh Pháp và đánh Mỹ. Ta thu 229 xe quân sự, trong đó có 20 xe hồng thập tự mới toanh, 20 khẩu đại bác, cùng nhiều vũ khí, quân dụng, quân trang khác.

Xóa sổ GM100 được xem là một “Điện Biên Phủ thứ 2”. Đòn sấm sét ở Điện Biên Phủ được bồi thêm đòn trời giáng cuối cùng xuống GM100 làm cho đội quân viễn chinh tinh nhuệ - sinh lực chủ yếu của Pháp tan nát, gục ngã không gượng dậy nổi. Thế sự đến đây, khiến Nava cảm thấy không thể ngoan cố kéo dài cuộc chiến, sẽ tổn thất nhân mạng, tiền của to lớn, nặng nề hơn nữa.

Đơn vị chuẩn bị tấn công đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột được điện của Tư lệnh Nguyễn Chánh tạm dừng, chờ lệnh.

Ngày 20/7/1954 lịch sử, Chính phủ Pháp buộc phải ký kết Hiệp định Genève, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược, công nhận chủ quyền, độc lập của Việt Nam và cả Đông Dương.

Hòa bình được thiết lập. Đờ Bô-pho thiết tha đề nghị Đại tướng Võ Nguyên Giáp “cho tôi được gặp con người đã làm tôi mất ăn, mất ngủ ở cái chốn cao nguyên khổ sở ấy…” (Trích dẫn: Chiêm nghiệm chân lý, Nxb Chính trị Quốc gia,  Sự thật, năm 2015).

Đại tướng Võ Nguyên Giáp vui lòng tổ chức cuộc gặp mặt và Đại tướng cùng dự.

Đờ Bô-pho hỏi: “Ngày ấy, sao ông không tấn công Buôn Ma Thuột. Chỉ cần ông dấn lên một bước nữa là bắt sống được tôi. Tôi đã sẵn sàng chờ đợi giờ phút ấy”.

Đồng chí Nguyễn Chánh vui vẻ cười trả lời: “Chúng tôi đã áp sát, sẵn sàng tấn công Buôn Ma Thuột và giải phóng cả Tây Nguyên. Nhưng ngài Đại tướng Tổng Tư lệnh của chúng tôi đây, thông báo cho biết, Pháp đã ký kết đình chiến, không để đổ thêm một giọt máu đào nào nữa của chiến sỹ chúng tôi và giảm đau thương cho các gia đình bên phía các ông có thêm những người thân thương vong trên chiến trường”.

Đờ Bô-pho lặng người một lát và tỏ lời khâm phục: “Quân đội các ông đánh rất giỏi. Binh lính chúng tôi thua trận là phải…”.

Đồng chí Nguyễn Chánh đáp lại ngay: “Không phải binh lính các ông yếu kém đâu. Họ đã từng thắng quân Đức trong chiến tranh đó sao? Các ông thua vì cuộc chiến tranh của các ông là phi nghĩa. Quân đội chúng tôi chiến đấu có mục đích chân chính. Nếu binh lính các ông hiểu rõ mục đích của các ông, họ sẽ không tham gia cuộc chiến tranh Đông Dương để thương vong một cách vô nghĩa đâu…”.

Cuối cùng, Đờ Bô-pho từ tốn nói: “Sau này, khi viết hồi ký, tôi xin phép được ghi lại cuộc gặp gỡ này”…

Năm 1955, tập kết ra miền Bắc, tôi được đi bổ túc quân sự Khóa 10 Trường Sỹ quan lục quân Việt Nam và vinh dự được có mặt trong đội hình cuộc diễu binh đầu tiên của quân đội ta, chào mừng một năm Giải phóng Thủ đô và 10 năm Quốc khánh nước ta (1945 - 1955).

Với chiều cao 1,7m, tôi được chọn đứng hàng đầu khối sỹ quan lục quân. Nhờ đó, tôi được nhìn thấy Bác Hồ rất rõ khi Bác đến thăm, duyệt đội hình ở Sân bay Bạch Mai.

Cuộc diễu binh đầu tiên này làm nức lòng phấn khởi đồng bào, chiến sỹ Thủ đô và cả nước. Dư luận quốc tế đặc biệt quan tâm vì chỉ một năm sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Quân đội nhân dân Việt Nam đã nhanh chóng tiến lên chính quy hùng mạnh, sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Tôi càng vui mừng khi được biết những chiếc xe GMC kéo pháo 105 ly, những xe cứu thương mới toanh, nước sơn xanh bóng, chở những cô gái quân y xinh đẹp diễu binh qua Quảng trường Ba Đình là chiến lợi phẩm của trận tiêu diệt GM100 ở Đắc Pơ.

Ôn lại chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, tôi không thể nào quên được những tháng ngày vô cùng gian khổ, cơm không đủ no, rừng khuya buốt giá, đầu đội mưa, chân không giày, lội suối băng rừng, leo đèo vượt dốc, hành quân bộ dọc dài hai tỉnh Kon Tum, Gia Lai. Vậy mà, giải phóng xong Kon Tum, được tin toàn thắng Điện Biên Phủ, rồi xóa sổ GM100, lần nào cũng vậy, hàng vạn cán bộ, chiến sỹ, dân công hỏa tuyến đều nhảy cao chân, giơ 2 tay, giơ súng lên trời, hò hét ầm vang núi rừng, ôm nhau reo vui, ngập tràn niềm tin chiến thắng, quên hết mọi vất vả, gian lao.

Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, là một chiến trường phụ, nhưng Liên khu 5 đã phối hợp hiệu quả xuất sắc nhất với chiến trường chính Điện Biên Phủ. Đồng thời những chiến công giành được cũng là những kỳ tích vĩ đại nhất của quân dân Liên khu 5 trong toàn bộ lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp ở Liên khu 5.

Thế hệ chúng tôi luôn thấm đậm niềm tự hào với Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, với cục diện chiến tranh Việt Nam trong Đông Xuân 1953 - 1954 và không tránh khỏi bùi ngùi, xúc động dâng nén hương lòng kính cẩn tưởng niệm hàng triệu đồng bào, đồng chí, đồng đội đã ngã xuống chiến trường cho đất nước, nhân dân ta có cuộc sống độc lập, tự do, hạnh phúc, thanh bình yên ấm như hôm nay.

Đại tá HỒ NGỌC SƠN

Nhà báo, nhà thơ, nguyên Trưởng phòng Báo chí - Thông tấn, Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam