Tiếp bài “Bình Giang (Hải Dương): Chậm xử lý sau thanh tra tại thị trấn Kẻ Sặt":

Lãnh đạo thị trấn nhiệm kỳ 1995 - 1999 không trung thực

Cập nhật: 17/03/2020 08:58

(Thanh tra)- Báo Thanh tra điện tử có bài “Bình Giang (Hải Dương): Chậm xử lý sau thanh tra tại thị trấn Kẻ Sặt”, phản ánh xung quanh những sai phạm của ông Nguyễn Trọng Thắng, nguyên Chủ tịch UBND thị trấn Kẻ Sặt nhiệm kỳ 1995 - 1999 đã được cơ quan chức năng chỉ ra từ nhiều năm qua. Đến nay, việc xử lý sau thanh tra vẫn… còn bỏ ngỏ, khiến người dân bất bình khiếu kiện, kéo dài.

Lãnh đạo thị trấn nhiệm kỳ 1995 - 1999 không trung thực
Khu đất ao, thời kỳ ông Nguyễn Trọng Thắng làm Chủ tịch UBND thị trấn bán trái thẩm quyền đã được san lấp, sử dụng. Ảnh: LP

Mua thanh lý và sử dụng từ năm 1998

Chia sẻ với PV Báo Thanh tra, Chủ tịch UBND huyện Bình Giang Nguyễn Trung Kiên cho biết, vụ việc liên quan đến nguyên Chủ tịch UBND thị trấn Kẻ Sặt Nguyễn Trọng Thắng đã được các cơ quan chức năng xem xét, giải quyết từ nhiều năm trước và có kết luận. 

Tuy nhiên, người dân vẫn không đồng tình và tiếp tố ông Nguyễn Trọng Thắng, nguyên Chủ tịch UBND thị trấn Kẻ Sặt đã bán đất, ao cạnh Trường Đảng cũ tại khu 3 thị trấn Kẻ Sặt, diện tích hơn 1,5 nghìn m2 cho ông Phạm Văn Trọng ở khu 3 thị trấn Kẻ Sặt, thu tiền 43 triệu đồng.

Xét thấy nội dung tố cáo có tình tiết mới, lại thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp huyện nên UBND huyện đã thành lập Đoàn Xác minh tố cáo do bà Phạm Thị Thu Hiền, Chánh Thanh tra huyện làm Trưởng đoàn.

Ông Kiên cho biết, theo quy định, Đoàn đã làm việc trực tiếp với người có đơn tố cáo cũng như thu thập các tài liệu có liên quan do người có đơn cung cấp. Đồng thời, yêu cầu UBND thị trấn Kẻ Sặt báo cáo và cung cấp hồ sơ địa chính lưu trữ tại địa phương.

Qua xác minh cho thấy, ngày 12/12/1998, UBND thị trấn Kẻ Sặt có biên bản thanh lý, giao đất ao thùng cho hộ ông Phạm Văn Trọng, công dân khu phố 3, là chủ sử dụng thửa đất ở số 23, tờ bản đồ số 3, diện tích 295m2 (nằm liền kề với thửa đất ao cạnh Trường Đảng cũ). Biên bản có nội dung: UBND, Ban Thanh lý nhất trí giao cho hộ gia đình ông Trọng khu ao thùng vũng nằm cạnh Trường Đảng để ông Trọng cải tạo, sử dụng. Diện tích ao là 1.468m2, phần đường đi vào là 95m2, tổng diện tích là 1563m2.

Biên bản có chữ ký của ông Nguyễn Văn Nhu, Phó Chủ tịch UBND, Trưởng ban Thanh lý, và ông Nguyễn Trọng Thắng, Chủ tịch UBND thị trấn. Thu về ngân sách địa phương số tiền 43 triệu đồng tại phiếu thu số 395 với nội dung: Thu thanh lý, đấu thầu ao, thùng sau Trường Đảng.

Theo hồ sơ địa chính năm 2001, diện tích ao cạnh Trường Đảng ông Trọng đang sử dụng thể hiện tại thửa số 16, tờ bản đồ số 8, diện tích 702,8m2, loại đất thổ cư; thửa số 26, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.617m2, loại đất ao.

Qua xác minh thực tế, thửa số 16 có nguồn gốc là đất ao và đường đi được UBND thị trấn thanh lý, giao đất ao thùng cho ông Trọng năm 1998, trên sổ mục kê năm 2001 đăng ký tên ông Trọng vì thời điểm này ông Trọng đang là người sử dụng.

Tuy nhiên, Hội đồng xét duyệt nguồn gốc sử dụng đất thị trấn xác định bút tích ghi vào thời điểm sau, không cùng thời điểm lập hồ sơ vì nét chữ và kiểu chữ khác với các tên còn lại. Việc thửa đất này được thể hiện lại đất thổ là do tại thời điểm đo đạc, hộ ông Trọng đã tự ý vượt bồi phần diện tích ao mà UBND thị trấn thanh lý, giao đất ao thùng năm 1998.

Còn thửa số 26, diện tích 1.617m2 thực tế đã đo gộp cả diện tích đất ao liền kề của hộ gia đình ông Phạm Văn Chục. Năm 1999, UBND huyện đã có kết luận xác định diện tích thửa ao số 26 có một phần diện tích của ông Chục. Do đó, trên sổ mục kê năm 2001 chỉ thể hiện thửa 26.

Sau này, cán bộ địa chính đã tách phần diện tích của hộ ông Chục riêng và đăng ký chủ sử dụng tại tửa số 26 là UBND thị trấn với diện tích 973,1m2 (thời điểm này, ông Trọng đang là người sử dụng) và thửa số 102, diện tích 644,1m2 mang tên ông Phạm Hòa (con trai ông Chục).

Như vậy, tổng diện tích 1675,9m2 là diện tích đất ao và đường đi vào đã được UBND thị trấn thanh lý, giao đất ao thùng cho hộ ông Trọng sử dụng theo Biên bản thanh lý, giao đất ao thùng ngày 12/12/1998. Tổng diện tích đăng ký trên hồ sơ địa chính năm 2001 là 1675,9m2, tăng so với giấy tờ thanh lý, giao đất ao thùng là 112,9m2.

Ngoài ra, Đoàn Thanh tra còn xác minh việc nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp đối với diện tích đất, ao cạnh Trường Đảng; xác minh các tổ chức cá nhân có liên quan và ông Trọng; các cuộc họp của HĐND, UBND thị trấn Kẻ Sặt qua các thời kỳ, Ban Thanh lý tài sản thị trấn Kẻ Sặt… cũng như làm việc với Đoàn Thanh tra năm 2000.

Tố cáo của công dân có cơ sở

Từ kết quả xác minh, UBND huyện Bình Giang khẳng định, năm 1998, UBND thị trấn Kẻ Sặt nhiệm kỳ 1995 - 1999 do ông Nguyễn Trọng Thắng làm Chủ tịch UBND thị trấn cùng với ông Nguyễn Văn Nhu, Phó Chủ tịch UBND thị trấn (Trưởng ban Thanh lý) đã thanh lý diện tích đất ao cạnh Trường Đảng cũ cho hộ ông Phạm Văn Trọng trái quy định của pháp luật.

Tại thời điểm xác minh, kết luận vụ việc do ông Nguyễn Văn Nhu đang mắc bệnh hiểm nghèo (tai biến) nên UBND huyện không kiến nghị hình thức xử lý kỷ luật đối với ông Nhu.

UBND thị trấn Kẻ Sặt nhiệm kỳ 1995 – 1999 có ông Nguyễn Trọng Thắng, Vũ Đức Hòa, Phạm Văn Hòa không trung thực trong việc báo cáo, giải trình với Đoàn Thanh tra năm 2000 về nội dung UBND thị trấn chỉ cho hộ ông Phạm Văn Trọng đấu thầu 20 năm thu tiền 1 lần.

Đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc Đoàn Thanh tra năm 2000 có kết quả xác minh: “Thực tế xác minh cho thấy, UBND thị trấn Kẻ Sặt không bán khu ao Trường Đảng mà cho ông Phạm Trọng Thắng đấu thầu 20 năm thu tiền 1 lần 43 triệu đồng vào ngân sách địa phương… Khi đấu thầu, không thực hiện quy định 1892 của UBND tỉnh”.

Do ông Vũ Đức Hữu, Phạm Văn Hoà không phải là đảng viên, thời điểm công chức có hành vi vi phạm đã gần 20 năm (hết thời hiệu xử lý kỷ luật) nên UBND huyện không kiến nghị xử lý kỷ luật đối với ông Hữu và ông Hòa theo Khoản 1, Điều 80 Luật Cán bộ, công chức năm 2010, Khoản 1, Điều 6 Nghị định số 34/2011/NĐ- CP ngày 17/5/2011 quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức.

Như vậy, nội dung công dân tố cáo ông Nguyễn Trọng Thắng, Chủ tịch UBND thị trấn Kẻ Sặt nhiệm kỳ 1995 - 1999 đã thanh lý đất ao cạnh Trường Đảng cũ tại khu 3, thị trấn Kẻ Sặt, diện tích 1.563m2 cho ông Phạm Văn Trọng ở khu 3 thị trấn Kẻ Sặt, thu tiền 43 triệu đồng là có cơ sở.

Việc UBND thị trấn Kẻ Sặt đã thanh lý 1.404m2 đất ao cho ông Trọng là có thực (trong đó, diện tích đất ao hiện trạng ông Trọng đang thả cá là 355m2; diện tích ao 1.049m2 ông Trọng đã tự ý san lấp trồng cây và làm một số công trình tạm trên đất).

UBND huyện Bình Giang không công nhận việc UBND thị trấn Kẻ Sặt thanh lý cả phần đất là đường đi vào khu ao 100m2 nên phần đường đi này phải được giữ nguyên hiện trạng để sử dụng là đường đi chung của tập thể.

Xem xét nếu ông Trọng có nhu cầu

Do vậy, UBND huyện Bình Giang đã đề nghị Ban Thường vụ Huyện ủy xem xét và có hình thức xử lý phù hợp đối với các thành viên Đoàn Thanh tra năm 2000 vì trong quá trình thanh tra chưa làm việc với hộ ông Trọng và trong báo cáo kết luận thanh tra chưa có kết luận cụ thể và kiến nghị cụ thể về vị trí đất ao cạnh trường Đảng cũ.

Đồng thời, kiến nghị Ban Thường vụ Huyện ủy giao Uỷ ban Kiểm tra Huyện ủy chỉ đạo xem xét trách nhiệm cá nhân và có hình thức xử lý kỷ luật nghiêm khắc đối với ông Nguyễn Trọng Thắng, Chủ tịch UBND thị trấn nhiệm kỳ 1995 - 1999 vì đã thực hiện không đúng chủ trương của Đảng ủy, trái nội dung cuộc họp của UBND thị trấn ngày 11/11/1997, báo cáo không trung thực sự việc đối với Đoàn Thanh tra năm 2000, thực hiện giao đất trái thẩm quyền tại vị trí đất ao cạnh Trường Đảng cũ cho hộ ông Trọng, khu 2, thị trấn Kẻ Sặt.

Phòng Tài nguyên, Môi trường huyện phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn UBND thị trấn Kẻ Sặt xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật đối với diện tích đất ao cạnh Trường Đảng cũ được UBND thị trấn thanh lý năm 1998 cho hộ ông Trọng (nếu ông Trọng có nhu cầu).

Diện tích qua trích đo thực tế là 1.404m2 (trong đó, diện tích ao hiện trạng ông Trọng đang thả cá là 355m2, diện tích ao 1.049m2 ông Trọng đã tự ý san lấp trồng cây và làm một số công trình tạm trên đất).

Riêng phần đường đi vào khu ao là 100m2 phải giữ nguyên hiện trạng để sử dụng làm đường đi chung của tập thể.

Lê Phương