Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

Hủy án, xử lại vẫn vậy?

Chủ nhật, 25/08/2013 - 07:44

(Thanh tra) - Gia đình bà Võ Thị Bằng, tổ 13, phường Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn sử dụng ổn định hơn 226m2 đất từ năm 1977 và kê khai đăng ký theo Nghị định 299/NĐ-CP của Chính phủ, nộp thuế đầy đủ. Bỗng dưng, bà Bằng phát hiện phần đất này nằm trong “sổ đỏ” của ông Phạm Chè, cùng trú ở tổ 13, Hòa Quý.

Vườn cây bà Bằng trồng từ năm 1980 cho đến nay vẫn còn trên phần đất đang tranh chấp

Vụ việc được chính quyền địa phương hòa giải, ông Chè đồng ý trả lại đất cho bà Bằng. Năm 2003, bà Bằng rào ranh đất thì xảy ra tranh chấp. Ông Chè khởi kiện ra TAND quận. Khi thấy yếu thế, ông Chè rút đơn, còn đất không chịu trả. Năm 2011, bà Bằng khởi kiện đòi lại đất, ngày 16/02/2012, TAND quận xử ông Chè thắng kiện. Xét thấy, Tòa sơ thẩm vi phạm tố tụng, sai sót về nội dung, nên TAND TP. Đà Nẵng xử hủy toàn bộ bản án trả hồ sơ cho Tòa quận xử lại. Tại phiên sơ thẩm xử lại, TAND quận lại bác đơn của bà Bằng (?).

Sau năm 1975, gia đình bà Bằng khai phá và trồng rau trên mảnh đất này. Năm 1980, theo chủ trương “phủ xanh đất trống, đồi trọc”, bà chuyển sang trồng cây dương liễu, bạch đàn và sầu đâu. Năm 1998, phát hiện đất mình nằm trong “sổ đỏ” của ông Chè, bà khiếu nại lên UBND xã Hòa Quý (nay là phường Hòa Quý) yêu cầu trả lại phần đất này. Theo biên bản hòa giải ngày 17/7/1998, tại UBND xã thì gia đình ông Chè có bà Bùi Thị Thơm (vợ ông Chè) làm đại diện, phía bà Bằng có bà Đoàn Thị Sương (con dâu, đang ở với bà Bằng) tham dự. Qua phân tích cơ sở pháp lý và thực tế sử dụng đất..., Bà Thơm đồng ý trả lại đất với yêu cầu bà Bằng không được làm nhà án ngữ trước mặt nhà mình; không rào gai lông, gai tre mà phải trồng trụ bê tông để rào theo ranh, và nhường 2m đất chiều ngang kéo dài hết thửa đất để làm đường đi vào nhà ông Chè. Bà Thơm cũng đồng ý giao “sổ đỏ” của mình cho bà Bằng để tách thửa phần diện tích 226m2 đất.

Thực hiện nội dung hòa giải, năm 2003, gia đình bà Bằng làm bờ rào lô đất bằng dây kẽm gai thì lại xảy ra tranh chấp. Tại biên bản họp giải quyết tranh chấp ngày 25/4/2003 của UBND phường, các thành viên tham dự đều xác định nguồn gốc đất là của bà Bằng. Lúc này, gia đình ông Chè không đồng ý nên làm đơn khởi kiện đến TAND quận Ngũ Hành Sơn. 

Thẩm phán TAND quận, Tán Thị Thu Dung phụ trách vụ án. Tại “Biên bản xác minh” của thẩm phán với ông Trần Hữu Vinh, Ban công tác mặt trận phường; với các ông Nguyễn Lên, Lê Văn Tường cán bộ địa chính phường; với ông Lê Trung Hàng, Chủ tịch UBND phường, tất cả đều khẳng định nguồn gốc phần đất tranh chấp là của bà Bằng quản lý sử dụng. Thấy không thể thắng kiện, ngay sau đó, ông Chè đã rút đơn nhưng không chịu điều chỉnh lại “sổ đỏ” trả đất cho bà Bằng.

Năm 2011, bà Bằng khởi kiện đòi lại đất. Ngày 12/02/2012, TAND quận tiến hành xét xử sơ thẩm, và tuyên bố bác nội dung khởi kiện của bà Bằng. HĐXX thừa nhận 32 cây dương liễu, 3 cây bạch đàn và 3 cây sầu đâu trồng trên phần đất tranh chấp là của gia đình bà Bằng, nhưng lại cho rằng đất này là do bà Bằng mượn của ông Chè (?). Tòa cũng phủ nhận luôn biên bản giải quyết vụ việc ngày 17/7/1998, của UBND xã Hòa Quý mà lúc đó bà Thơm đã đồng ý trả đất, vì lý do nghi ngờ tính khách quan của biên bản? Tòa cũng tự hủy các biên bản xác minh do Thẩm phán Thu Dung lập năm 2003(?).

Do phiên tòa sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng về tố tụng lẫn nội dung, ngày 15/3/2012, VKSND TP. Đà Nẵng quyết định kháng nghị bản án. Ngày 10/8/2012, TAND TP đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, tuyên hủy án sơ thẩm số 01/2012 của TAND quận, giao hồ sơ vụ án cho Tòa sơ thẩm giải quyết lại.

Ngày 22/4/2013, TAND quận xét xử sơ thẩm lại vụ án, và một lần nữa bác đơn khởi kiện của bà Võ Thị Bằng vì phần đất tranh chấp trên đã được cấp “sổ đỏ” cho gia đình ông Chè. Tòa cho rằng, văn bản giải quyết ngày 17/7/1998, của UBND xã Hòa Quý không được xem văn bản pháp lý, dù vẫn thừa nhận rằng: “Đến ngày 25/4/2003, đại diện quân dân chính có biên bản họp để tìm hiểu ý kiến đóng góp, tìm cách giải quyết mâu thuẩn giữa hai hộ, thì có 5 ý kiến xác định nguồn gốc đất là của gia đình bà Bằng (100% đại biểu)”. Vậy nhưng, không hiểu tòa lấy cơ sở nào để khẳng định: “Mặc dù về mặt thực tế thì ông Chè hoàn toàn không sử dụng và bà Bằng có trồng dương liễu từ năm 1997 nhưng không có nghĩa là phần đất đang tranh chấp giữa hai hộ là đất của bà Bằng…”? Bản án tuyệt nhiên không nhắc đến nội dung các “Biên bản xác minh” do chính cán bộ Tòa xác minh trước đó? Luật sư của nguyên đơn yêu cầu hoãn phiên tòa để triệu tập những người đã tiến hành hòa giải giữa hai gia đình vào năm 1997, những người biết rõ về nguồn gốc mà trước đó tòa đã tiến hành xác minh vào năm 2003, để việc xét xử được khách quan hơn, nhưng đã bị từ chối.

Vụ việc đơn giản, chứng cứ rõ ràng như vậy và hầu hết các nhân chứng và những người liên quan vẫn còn sinh sống, không hiểu vì sao TAND quận lại đưa ra những phán quyết lạ lùng, dù đã một lần bị hủy án? Bà Bằng lại kháng cáo lên TAND TP. Đà Nẵng.

Nguyên Phê

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Bố Trạch (Quảng Trị): Trục lợi chính sách hỗ trợ thiên tai, loạt cán bộ thôn Bồng Lai 1 bị yêu cầu kiểm điểm

Bố Trạch (Quảng Trị): Trục lợi chính sách hỗ trợ thiên tai, loạt cán bộ thôn Bồng Lai 1 bị yêu cầu kiểm điểm

(Thanh tra) - Người dân thôn Bồng Lai 1 có đơn thư kiến nghị về việc cán bộ thôn, xã có sai phạm trong kê khai và chi trả sai đối tượng được hỗ trợ sau cơn bão số 10 năm 2025. UBND xã Bố Trạch, tỉnh Quảng Trị đã có Kết luận 918 ngày 29/5/2026 khẳng định, nhiều nội dung phản ánh là đúng.

Lê Hữu Chính

18:33 24/06/2026

Tin mới nhất

Xem thêm