(Thanh tra) - Báo Thanh tra các ngày 26/7/2013 và 27/7/2013 có loạt bài phản ánh, nhà - đất của bà Nguyễn Thị Bích Lan (477 Nguyễn Thị Thập P. Tân Phong, Q.7, TP. Hồ Chí Minh) không nằm trong quyết định thu hồi đất của Thủ tướng vẫn bị UBND Q.7 ra quyết định cưỡng chế giải tỏa. Về việc này, Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Hữu Tín đã chỉ đạo làm rõ.
Năm 1997, một số xã và một phần thị trấn Nhà Bè chuyển thành địa bàn Q.7, trong đó có đất của gia đình bà Lan. Liên tiếp trong hai năm 1998, 1999, bà Lan xin phép xây dựng và được UBND Q.7 cấp phép cho xây nhà trên các thửa đất trên. Năm 2002, bà Lan được tin một phần diện tích đất của gia đình nằm trong Dự án (DA) khu dân cư Tân Quy Đông (TQĐ) và DA nhà ở TQĐ do Công ty CP phát triển Nam Sài Gòn và Công ty TNHH MTV Đầu tư và xây dựng làm chủ đầu tư.
Qua tìm hiểu từ các quyết định, bà Lan phát hiện đất của gia đình nằm ngoài quy hoạch: Quyết định (QĐ) 3627 ngày 26/4/1995 của Văn phòng Kiến trúc sư trưởng TP phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết phân lô Khu định cư Tân Quy Đông (TQĐ), vị trí giới hạn quy hoạch được xác định: Phía Bắc giáp lộ số 1; phía Nam giáp rạch Thủy Tiêu; phía Tây giáp rạch nhỏ và khu dân cư có sẵn dọc theo hương lộ 42, phía Đông giáp trại chăn nuôi và khu nhà ở cán bộ công nhân viên của huyện Nhà Bè dự kiến xây dựng. Tổng diện tích đất quy họach là 19,35 ha. QĐ 3627 cho thấy, ranh đất DA giáp trại chăn nuôi và như vậy nhà đất của bà Lan hoàn toàn nằm bên ngoài DA nói trên.
Tại Tờ trình số 138 ngày 10/4/1996 của UBND huyện Nhà Bè gửi UBND TP, Văn phòng Kiến trúc sư trưởng, Sở Địa chính thành phố; Viện quy hoạch xây dựng và kiến trúc về việc chấp thuận địa điểm xây dựng khu nhà ở TQĐ cũng không có các thửa đất của gia đình bà Lan. Vậy nhưng, không hiểu vì sao tại bản đồ hiện trạng vị trí do Phòng Địa chính huyện Nhà Bè đo vẽ xác định hiện trạng lại có các lô đất 97, 98, 99 và 100 do bà Lan đang sử dụng? Từ tấm bản đồ ấy, Sở Tài nguyên - Môi trường có các tờ trình UBND TP, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt DA và đất của gia đình bà Lan lại… vào quy hoạch. Việc này đã dẫn đến tình trạng thưa kiện kéo dài của bà Lan để làm rõ ranh giới thu hồi đất thuộc DA khu dân cư TQĐ và khu DA nhà ở TQĐ. Trước hàng loạt yêu cầu phải trả lời làm rõ của các nơi bà Lan gửi đơn khiếu nại, Sở Tài nguyên - Môi trường đã có Công văn số 4785 gửi UBND TP ghi rõ: “Có sự sai sót của chủ đầu tư DA và các cơ quan Nhà nước nên bà Lan khiếu nại, kiến nghị. Tuy nhiên, cả chủ đầu tư DA và các cơ quan Nhà nước đã không điều chỉnh hoặc đính chính, hoàn chỉnh lại các nội dung thuộc chức năng và thẩm quyền của mình cho đúng”.
Không điều chỉnh, không đính chính, trách nhiệm không biết của ai nên mặc nhiên nhà, đất của bà Lan nằm trong tầm ngắm của doanh nghiệp và một số cán bộ Q.7. Việc nhắm mắt làm liều này được thể hiện qua việc so với phê duyệt của Kiến trúc sư trưởng TP (19,35 ha), QĐ 4538/QĐ-UBND của UBND TP cho phép đầu tư DA khu định cư TQĐ của Cty Nam Sài Gòn chỉ còn 18,64 ha và QĐ 486/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ giao cho DA này chỉ còn 18,36 ha, thu hẹp lại nhiều, thì càng không dính vào khu đất của bà Lan.
Vì thế, việc Tờ bản đồ thu hồi, giao đất số 9908/ĐĐ có thêm một phần thửa đất số 94 và 95 của bà Lan là điều vô lý. Nếu có chăng thì chắc chắn ai đó đã tùy tiện vẽ thêm vào.
Đối với DA Khu nhà ở TQĐ, vào ngày 10/4/1996, UBND huyện Nhà Bè có Tờ trình số 138/CV-UB, xin thuận địa điểm xây dựng khu nhà ở TQĐ do Cty Tân Thuận đầu tư, với diện tích là 20 ha. Theo tờ trình này, vị trí địa điểm khu đất xây dựng nhà ở nêu trên không có các thửa đất 97, 98, 99, 100 do bà Lan sử dụng. Ngày 22/9/2000, Thủ tướng Chính phủ ban hành QĐ 926/QĐ-TTg thu hồi 199.169m2, giao cho Công ty Tân Thuận 183.511m2. Diện tích thu hồi đất của Thủ tướng đã giảm so với Tờ trình số 138 của huyện Nhà Bè. Cũng như QĐ 486/QĐ-TTg, vị trí ranh giới khu đất được xác định theo tờ bản đồ vị trí để lập Thủ tục giao - thuê đất số 10861/GĐ tỷ lệ 1/4000 do Sở Địa chính xác lập ngày 23/5/2000 kèm theo QĐ 926/QĐ-TTg bao gồm các thửa 97, 98, 99, 100. Ngày 04/5/2009, UBND TP ban hành QĐ 1890/QĐ điều chỉnh diện tích thu hồi, giao đất đối với QĐ 926/QĐ-TTg, theo đó diện tích giảm xuống còn 171.418m2. Từ Tờ trình số 138 của huyện Nhà Bè đến QĐ 1890 của UBND TP và QĐ 926/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho thấy, nhà đất của bà Lan không nằm trong phạm vi bị thu hồi.
Vậy nhưng, để lấy đất cho doanh nghiệp, ngày 24/12/2009, Chủ tịch UBND Q.7 Võ Thị Kim Em vẫn ban hành QĐ số 64/QĐ, Thành lập Tổ kiểm kê bắt buộc của DA đầu tư xây dựng Khu định cư TQĐ. Ông Phạm Duy Khoa, Hội đồng Bồi thường giải phóng mặt bằng quận làm tổ trưởng. Cơ sở pháp lý mà Chủ tịch UBND Q.7 đưa ra là QĐ 486/QĐ-TTg ngày 03/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ và Đề nghị của Trưởng Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng quận.
Ngày 19/01/2011, Phó Chủ tịch UBND Q.7 Trương Văn Thủ ban hành Văn bản (số 167/UBND) nhằm triển khai thực hiện quyết định của Chủ tịch quận, lấy nhà đất của dân. Theo văn bản này, Q.7 căn cứ QĐ thu hồi đất số 486/QĐ-TTg và bản đồ vị trí thu hồi đất, giao đất số 9908/ĐĐ, tỷ lệ 1/4000 do Sở Địa chính TP xác lập ngày 28/5/1996 để thu hồi đất của gia đình bà Nguyễn Thị Bích Lan. Điều đáng nói, đến tay Phó Chủ tịch Thủ, diện tích thu hồi không dừng lại ở thửa số 94, 95 theo tờ vị trí mà cán bộ Sở Địa chính đã “vẽ thêm”, mà tăng lên 3.100m2, thuộc thửa 94, 95, 97, 98, 100 tờ 6!
Người dân cũng như công luận vô cùng căm phẫn trước việc lãnh đạo UBND Q.7 dùng QĐ 486 của Thủ tướng làm “bảo bối” và nhiều âm mưu tinh vi khác quyết tâm cưỡng chế, thu hồi đất của gia đình bà Lan giao cho doanh nghiệp. Người dân hỏi: Công lý ở đâu?
Nhóm PVĐT