Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra, kiểm tra - hiểu để làm đúng

TS.Đinh Văn Minh, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế (TTCP)

Thứ năm, 29/01/2026 - 07:00

(Thanh tra) - Thanh tra và kiểm tra trong giai đoạn 2025–2030 không chỉ dừng lại ở việc tinh gọn tổ chức bộ máy, mà còn thể hiện rõ ở việc thiết kế lại thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, một nội dung có ý nghĩa quyết định đối với hiệu lực thực thi pháp luật.

Luật Thanh tra năm 2025 cùng với Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) đã tạo ra một khung pháp lý mới, trong đó không còn phân biệt thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành, đồng thời lần đầu tiên ghi nhận rõ thẩm quyền xử phạt trong hoạt động kiểm tra chuyên ngành – lĩnh vực trước đây tồn tại trong thực tiễn nhưng chưa được luật hóa đầy đủ.

Tổng Thanh tra Chính phủ Đoàn Hồng Phong. Ảnh: Huy Trần

Sự thay đổi này được cụ thể hóa thông qua Điều 37a của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 217/2025/NĐ-CP ngày 5/8/2025 của Chính phủ về kiểm tra chuyên ngành. Hai quy định này, nếu được đặt trong mối liên hệ hệ thống với Luật Thanh tra 2025, đã hình thành một cấu trúc thẩm quyền xử phạt mới, rõ ràng hơn, thống nhất hơn và phù hợp với mô hình quản lý Nhà nước hiện đại.

Luật Thanh tra 2025 đánh dấu một bước chuyển quan trọng về tư duy pháp lý khi không còn phân loại thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Thanh tra được xác định là một hoạt động thống nhất, nhằm xem xét, đánh giá việc chấp hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo trình tự, thủ tục do luật định.

Việc xóa bỏ sự phân biệt này có ý nghĩa trực tiếp đối với vấn đề xử phạt vi phạm hành chính:

Thứ nhất, thanh tra không còn bị “giới hạn chức năng” theo nhãn hành chính hay chuyên ngành; từ đó, thẩm quyền xử phạt được xác định theo chức danh và nhiệm vụ, thay vì theo loại hình thanh tra.

Thứ hai, kết luận thanh tra và xử phạt vi phạm hành chính được đặt trong cùng một chuỗi pháp lý, bảo đảm tính kịp thời và trách nhiệm cá nhân.

Thứ ba, tạo tiền đề để Luật Xử lý vi phạm hành chính xác lập lại danh mục người có thẩm quyền xử phạt, không phụ thuộc vào cách gọi của hoạt động thanh tra.

Luật Thanh tra quy định về kiểm tra trong sự phân biệt với hoạt động thanh tra như sau: Thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm tổ chức kiểm tra việc chấp hành chính sách, pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của mình theo quy định của pháp luật. Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện vi phạm thì áp dụng hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp theo quy định của pháp luật để xử lý kịp thời hành vi vi phạm.

Một buổi công bố quyết định thanh tra của Cục VII (Thanh tra Chính phủ). Ảnh: Dương Nguyễn

Trường hợp cần thiết thì yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành thanh tra; nếu có dấu hiệu tội phạm thì kiến nghị khởi tố và chuyển hồ sơ vụ việc, tài liệu có liên quan đến cơ quan điều tra để xem xét, quyết định việc khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.

Điểm đặc biệt lưu ý là cùng với việc đề cao trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan quản lý trong công tác nói chung thì pháp luật đã có quy định riêng về kiểm tra chuyên ngành, để phân biệt với các hình thức kiểm tra có tính chất nội bộ nhằm nắm tình hình, tiến độ công việc, đôn đốc nhắc nhở, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong các cơ quan nhà nước.

Trên nền tảng đó, pháp luật hiện hành tách bạch rõ hai không gian xử phạt: xử phạt trong hoạt động thanh tra và xử phạt trong hoạt động kiểm tra chuyên ngành, được thể hiện rõ trong Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) và Nghị định số 217/2025/NĐ-CP ngày 5/8/2025 về kiểm tra chuyên ngành. Trên thực tế, nhiều hoạt động trước kia được gọi là thanh tra chuyên ngành sẽ vẫn tiếp tục nhưng với tên gọi là kiểm tra chuyên ngành.

Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), thẩm quyền xử phạt trong hoạt động thanh tra không còn gắn với khái niệm thanh tra chuyên ngành, mà được xác định theo chức danh, vị trí công tác và phạm vi quản lý của người thực hiện thanh tra.

Nguyên tắc chung là: Người tiến hành thanh tra, người đứng đầu cơ quan thanh tra, hoặc người được giao chủ trì đoàn thanh tra, khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính trong phạm vi thanh tra, thì có quyền xử phạt nếu thuộc thẩm quyền được luật định.

Các chức danh có thẩm quyền xử phạt trong hoạt động thanh tra hiện nay bao gồm:

+ Thanh tra viên các bộ, cơ quan ngang bộ: Quốc phòng, Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Thanh tra viên Ban Cơ yếu Chính phủ, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, Cục Hàng không Việt Nam, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;

+ Trưởng đoàn thanh tra của các cơ quan: Cục An toàn bức xạ và hạt nhân, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, Cục Hàng không Việt Nam, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước khu vực, Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Công an cấp tỉnh, Ban Cơ yếu Chính phủ; Trưởng đoàn thanh tra cấp quân khu, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội;

+ Chánh Thanh tra Cơ yếu; Chánh Thanh tra Cục An toàn bức xạ và hạt nhân; Chánh Thanh tra Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam; Chánh Thanh tra Cục Hàng không Việt Nam; Chánh Thanh tra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; Chánh Thanh tra quốc phòng quân khu; Chánh Thanh tra quốc phòng Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội; Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước khu vực; Chánh Thanh tra Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng; Chánh Thanh tra Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Chánh Thanh tra Công an cấp tỉnh;

+ Chánh Thanh tra các bộ, cơ quan ngang bộ: Quốc phòng, Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Trưởng đoàn thanh tra do Chánh Thanh tra các bộ, cơ quan ngang bộ: Quốc phòng, Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thành lập; 

Mức phạt và việc áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính cụ thể cho mỗi chức danh được quy định tại Điều 7 Nghị định 189/2025/NĐ-CP.

Điểm đáng chú ý là: thẩm quyền xử phạt của các chức danh này không phụ thuộc vào việc cuộc thanh tra mang tính “hành chính” hay “chuyên ngành”, mà phụ thuộc vào phạm vi thanh tra và vị trí pháp lý của người thực hiện thanh tra.

Phát huy vai trò thanh tra, kiểm tra trong quản lý, điều hành tại VKSND TP Hà Nội. Ảnh: VKSND TP Hà Nội

Đây là vấn đề khá phức tạp do tính đa dạng của các hoạt động quản lý cũng như do sự thay đổi mạnh mẽ tổ chức các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy.

Kết luận số 134-KL/TW ngày 28/3/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về Đề án sắp xếp cơ quan thanh tra tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả đã chỉ rõ: Bảo hiểm xã hội và các cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành: Không tổ chức thanh tra chuyên ngành mà thực hiện chức năng kiểm tra chuyên ngành và các chức năng khác theo quy định của pháp luật.

Nghị định số 217/2025/NĐ-CP xác định kiểm tra chuyên ngành là hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước nhằm xem xét việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, điều kiện kinh doanh và các nghĩa vụ pháp lý khác của tổ chức, cá nhân.

TS.Đinh Văn Minh, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế (TTCP). Ảnh: Dương Nguyễn

Điều 6 của Nghị định 217 có ý nghĩa đặc biệt khi lần đầu tiên quy định rõ chủ thể thực hiện kiểm tra và gắn trực tiếp với thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên có điều cần đặc biệt lưu ý là người có thẩm quyền có quyền xử phạt được thực hiện theo quy định tại Điều 37a của Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi), bao gồm các chức danh cụ thể của cơ quan quản lý, bao gồm:

+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp;

+ Thủ trưởng tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ giúp bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực; thủ trưởng tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ được giao chức năng, nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ, trừ trường hợp bộ, cơ quan ngang bộ có các chức danh quy định tại điểm đ khoản này;

+ Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; thủ trưởng chi cục thuộc cục thuộc bộ và tương đương; thủ trưởng chi cục thuộc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và tương đương;

+ Trưởng đoàn kiểm tra của bộ, cơ quan ngang bộ trong thời hạn kiểm tra;

+ Người có thẩm quyền thuộc các cơ quan, lực lượng: Công an nhân dân; Bộ đội Biên phòng; Cảnh sát biển; Hải quan; Thuế; Quản lý thị trường; Lâm nghiệp và Kiểm lâm; Thủy sản và Kiểm ngư; Thi hành án dân sự;

+ Giám đốc, trưởng đại diện Cảng vụ Hàng hải, Cảng vụ Đường thủy nội địa, Cảng vụ Hàng không; Giám đốc Trung tâm Tần số vô tuyến điện khu vực; Giám đốc Bảo hiểm xã hội khu vực, Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam; Giám đốc Kho bạc Nhà nước, Giám đốc Kho bạc Nhà nước khu vực;

+ Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia; Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; Trưởng Ban cơ yếu Chính phủ; người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài;

+ Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, trừ trường hợp Luật Cạnh tranh có quy định khác về thẩm quyền xử phạt đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền, tập trung kinh tế, cạnh tranh không lành mạnh;

Căn cứ quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính, Chính phủ ban hành Nghị định 189/2025/NĐ-CP này 1/7/2025 quy định chi tiết các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Điều 6 Nghị định xác định rõ thẩm quyền xử phạt của Thủ trưởng cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo chuyên ngành, lĩnh vực.

Thẩm quyền của một số cơ quan khác như công an, cảnh sát biển, quản lý thị trường, thuế… có những quy định riêng tại các điều khoản khác của Nghị định này.

Cần hết sức lưu ý là trong quá trình thực hiện cách mạng tinh giản tổ chức bộ máy, nhiều cơ quan được sắp xếp lại (sáp nhập, điều chỉnh, thay đổi tên gọi…) và theo đó các chức danh có thẩm quyền xử phạt cũng có sự thay đổi nên khi thực hiện thẩm quyền xử phạt hành chính, cần chú ý căn cứ vào các văn bản: Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định 189/2025/NĐ-CP và các văn bản có liên quan. Đối với các cơ quan, lực lượng được thành lập mới thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh này do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Một điều nữa cần lưu ý là khi tiến hành hoạt động kiểm tra chuyên ngành thì phải tuân thủ các quy định tại Nghị định 217/2025/NĐ-CP còn việc xử lý vi phạm hành chính thì thực hiện theo trình tự, thủ tục tại Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định 189/2025/NĐ-CP bởi vì không phải hoạt động kiểm tra chuyên ngành nào cũng có việc xử lý vi pham hành chính và ngược lại không phải hoạt động xử lý vi phạm hành chính nào cũng phải thông qua hoạt động kiểm tra chuyên ngành.

Luật Thanh tra 2025 và Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) và Nghị định 189/2025/NĐ-CP cùng với Nghị định 217/2025/NĐ-CP đã thiết lập lại cấu trúc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo hướng hiện đại, minh bạch và phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong giai đoạn mới.

Trên cơ sở đó, tách bạch rõ thẩm quyền xử phạt trong hoạt động thanh tra và thẩm quyền xử phạt trong hoạt động kiểm tra chuyên ngành, đồng thời đặt chúng trong một hệ thống pháp luật thống nhất, chính là điểm then chốt bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong giai đoạn cải cách thể chế hiện nay.

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra, kiểm tra - hiểu để làm đúng

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra, kiểm tra - hiểu để làm đúng

(Thanh tra) - Thanh tra và kiểm tra trong giai đoạn 2025–2030 không chỉ dừng lại ở việc tinh gọn tổ chức bộ máy, mà còn thể hiện rõ ở việc thiết kế lại thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, một nội dung có ý nghĩa quyết định đối với hiệu lực thực thi pháp luật.

TS.Đinh Văn Minh, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế (TTCP)

07:00 29/01/2026
Xây dựng văn hóa giải trình của đội ngũ cán bộ giải quyết khiếu nại, tố cáo

Xây dựng văn hóa giải trình của đội ngũ cán bộ giải quyết khiếu nại, tố cáo

(Thanh tra) - Trong hoạt động quản lý nhà nước, giải quyết khiếu nại, tố cáo luôn được coi là lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp, dễ phát sinh xung đột và có tác động trực tiếp đến ổn định chính trị - xã hội. Thực tiễn nhiều năm cho thấy, không ít vụ việc khiếu nại, tố cáo kéo dài, vượt cấp, tập trung đông người không bắt nguồn từ việc thiếu quy định pháp luật mà xuất phát từ sự yếu kém trong trách nhiệm giải trình của đội ngũ cán bộ thực thi công vụ. Vì vậy, xây dựng văn hóa giải trình trong đội ngũ cán bộ giải quyết khiếu nại, tố cáo không chỉ là yêu cầu nghiệp vụ mà là vấn đề mang tính chiến lược trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

TS. Bùi Mạnh Cường

08:00 25/01/2026

Tin mới nhất

Xem thêm