Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

Khó để xác định được việc giải quyết tố cáo tiếp thế nào cho đúng

Thứ sáu, 29/09/2017 - 10:20

(Thanh tra)- Theo Thanh tra Chính phủ, về trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo (TC), Luật TC hiện hành quy định những nội dung cơ bản về trình tự thủ tục giải quyết TC. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu các quy định cụ thể trong từng giai đoạn của quá trình giải quyết như: Việc tiếp nhận và xử lý ban đầu thông tin TC; rút đơn TC; tiến hành xác minh nội dung TC; kết luận nội dung TC; xử lý TC và công khai kết luận nội dung TC, quyết định xử lý về TC... Do vậy, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nhiều khi còn khó khăn trong quá trình thực hiện.

Về việc TC tiếp và giải quyết TC tiếp, tại điểm b, Khoản c Điều 27 quy định: “Trường hợp việc giải quyết TC của người đứng đầu cấp dưới trực tiếp là đúng pháp luật thì không giải quyết lại, đồng thời thông báo cho người TC về việc không giải quyết lại và yêu cầu họ chấm dứt việc TC; trường hợp việc giải quyết TC của người đứng đầu cơ quan cấp dưới trực tiếp là không đúng pháp luật thì tiến hành giải quyết lại”. Tuy nhiên, trên thực tế rất khó để xác định được việc giải quyết thế nào đúng hay không đúng pháp luật, nếu như không có bước xử lý ban đầu để xem xét hồ sơ giải quyết vụ việc trước đó để quyết định thụ lý hay không thụ lý giải quyết tiếp, xác minh, xem xét cụ thể nội dung vụ việc.

Mặt khác, Điều 27 cũng quy định chỉ trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được TC tiếp phải xác định được vụ việc đó được giải quyết đúng pháp luật hoặc không đúng pháp luật là khó khả thi trên thực tế.

Đối với việc tổ chức thi hành kết luận nội dung TC, quyết định xử lý về TC, Luật TC chưa quy định rõ, do vậy trên thực tế đã diễn ra tình trạng có nhiều kết luận, quyết định xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật bị TC đã ban hành có hiệu lực pháp luật nhưng không được cơ quan có thẩm quyền tổ chức thực hiện đầy đủ, kịp thời, nghiêm minh, nhất là việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức; xử lý sai phạm về kinh tế tài chính... Vì vậy, gây ra những bức xúc cho người dân và xã hội.

Về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc quản lý công tác giải quyết TC, trách nhiệm của các cơ quan trong công tác giải quyết TC được quy định tại Điều 43 nhưng chỉ quy định trách nhiệm phối hợp của các cơ quan ở Trung ương còn các cơ quan khác chỉ là phối hợp trong báo cáo. Thực tế các cơ quan, tổ chức cần phối hợp chặt chẽ trong giải quyết TC và việc phối hợp cần được quy định cụ thể về phạm vi, mức độ, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, vấn đề này cần được nghiên cứu, bổ sung quy định trong Luật.

Ngoài ra, Điều 42 quy định “Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện định kỳ thông báo với UBND cùng cấp về công tác giải quyết TC trong phạm vi quản lý của cơ quan, tổ chức mình. Trong trường hợp cần thiết, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp huyện làm việc với Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để phối hợp trong công tác giải quyết TC”. Tuy nhiên, trên thực tế, việc phối hợp của các cơ quan tư pháp với cơ quan hành chính trong giải quyết TC rất khó thực hiện vì không có hướng dẫn cụ thể.

Hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân cùng cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, theo Thanh tra Chính phủ, mặc dù đã được quy định tại Điều 44, nhưng việc giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân cùng cấp hiện nay chưa được quy định trong Luật TC mà quy định ở các Luật khác. Điều này đã làm giảm tính chủ động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân cùng cấp trong việc giám sát công tác giải quyết TC tại các cơ quan, đơn vị, địa phương, cơ sở.

Cũng theo Thanh tra Chính phủ, Luật TC bước đầu đã đưa ra quy định về các biện pháp bảo vệ người TC, đồng thời đã được cụ thể hóa tại Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 3/10/2012. Tuy nhiên, các quy định đó chưa khả thi, chưa xác định rõ trách nhiệm và các điều kiện cần thiết nhất là về tài chính để bảo vệ người TC, người thân thích của người TC một cách hiệu quả và thực chất. Theo đó, cần có các quy định pháp luật cụ thể, chi tiết, đầy đủ, toàn diện, phù hợp với thực tiễn nhằm bảo vệ kịp thời, hiệu quả người TC và người thân thích của người TC.

Đối với vấn đề khen thưởng, Luật TC chỉ có quy định mang tính nguyên tắc về khen thưởng đối với cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc TC. Vì vậy chưa động viên, khuyến khích được những người có trách nhiệm, dũng cảm đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật.

Việc xử lý hành vi vi phạm bị TC của người giải quyết TC là khâu cuối cùng và quan trọng nhất trong quá trình giải quyết TC. Việc xử lý khách quan, đúng pháp luật có tác dụng tích cực đối với việc phòng ngừa, đấu tranh chống các hành vi vi phạm, đồng thời khuyến khích, động viên ý thức đấu tranh của nhân dân chống lại các vi phạm pháp luật trong xã hội. Luật TC đã có quy định xử lý hành vi vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ công vụ và hành vi vi phạm pháp luật về quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực. Tuy nhiên, việc xử lý theo quy định tại Điều 46, 47 và Điều 48 còn gặp nhiều khó khăn trên thực tế, chưa quy định rõ ràng, thiếu các biện pháp chế tài cụ thể trong việc xử lý trách nhiệm đối với các chủ thể có những hành vi vi phạm pháp luật như cố tình không giải quyết TC, vi phạm thời hạn giải quyết TC, cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ việc giải quyết, cố tình TC sai sự thật, mạo danh người khác để TC...

Phương Hiếu

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Tin mới nhất

Xem thêm