Theo dõi Báo Thanh tra trên
TS.Đinh Văn Minh, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, TTCP
Thứ năm, 23/04/2026 - 13:25
(Thanh tra) - Việc thí điểm chế định luật sư công là một bước đi cần thiết nhưng không đơn giản. Nếu được thiết kế và triển khai một cách bài bản, luật sư công có thể trở thành một công cụ hữu hiệu giúp Nhà nước nâng cao năng lực pháp lý trong bối cảnh mới.
Việc Bộ Tư pháp trình Quốc hội dự án Nghị quyết về thí điểm chế định luật sư công là một bước đi đáng chú ý trong tiến trình hoàn thiện thể chế pháp lý và nâng cao năng lực bảo vệ lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày tờ trình dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm chế định luật sư công. Ảnh: Phạm Thắng
Trong những năm gần đây, cùng với sự gia tăng của các tranh chấp đầu tư, thương mại, hành chính và đặc biệt là các vụ việc có yếu tố nước ngoài, nhu cầu về một đội ngũ pháp lý chuyên nghiệp, có khả năng tham gia tranh tụng và tư vấn ở trình độ cao trong khu vực công ngày càng trở nên cấp thiết.
Dự thảo Nghị quyết đã bước đầu thiết kế một khuôn khổ tương đối đầy đủ cho chế định này, từ khái niệm, tiêu chuẩn, phạm vi hoạt động đến quyền, nghĩa vụ và chế độ, chính sách, thể hiện nỗ lực xây dựng một lực lượng luật sư có tính chuyên nghiệp, phục vụ trực tiếp cho lợi ích của Nhà nước.
Tuy nhiên, do đây là một mô hình mới, có tác động không nhỏ đến cấu trúc nghề luật sư và cơ chế vận hành của bộ máy công quyền, việc đánh giá một cách thận trọng, toàn diện cả về tính hữu ích lẫn những vấn đề đặt ra là hết sức cần thiết.
Trên phương diện kinh nghiệm quốc tế, có thể thấy việc xây dựng đội ngũ luật sư phục vụ Nhà nước là một xu hướng phổ biến, dù cách thức tổ chức và phạm vi hoạt động có sự khác biệt giữa các quốc gia.
Ở Hoa Kỳ, các cơ quan như Bộ Tư pháp duy trì một đội ngũ luật sư hùng hậu, chuyên trách bảo vệ Chính phủ trong các vụ kiện lớn, từ tranh chấp hành chính đến các vụ việc quốc tế phức tạp, qua đó bảo đảm tính thống nhất trong lập trường pháp lý và giảm phụ thuộc vào dịch vụ pháp lý bên ngoài.

Toàn cảnh hội thảo “Phát huy vai trò và năng lực của đội ngũ làm công tác pháp chế trước yêu cầu hình thành chế định luật sư công tại Việt Nam”, được Bộ Tư pháp tổ chức ngày 7/11/2025. Ảnh: Minh Nguyệt
Tại Pháp, hệ thống chuyên gia pháp lý Nhà nước gắn với Hội đồng Nhà nước không chỉ đóng vai trò tư vấn mà còn tham gia xét xử, tạo nên một cơ chế kiểm soát pháp lý chặt chẽ đối với hoạt động hành chính.
Nhật Bản cũng từng phải điều chỉnh chính sách theo hướng tăng cường luật sư nội bộ sau những vụ tranh chấp quốc tế bất lợi, cho thấy tầm quan trọng của việc chủ động về năng lực pháp lý trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Những kinh nghiệm này gợi mở rằng chế định luật sư công có thể mang lại nhiều lợi ích thiết thực, từ việc chuyên nghiệp hóa hoạt động pháp lý trong khu vực công, nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro, đến việc tiết kiệm chi phí và tích lũy tri thức pháp lý dài hạn cho Nhà nước.
Ở góc độ này, việc Việt Nam thí điểm mô hình luật sư công là có cơ sở cả về lý luận lẫn thực tiễn, đặc biệt khi dự thảo đã xác định rõ luật sư công là những người được cấp chứng chỉ hành nghề, hoạt động theo nguyên tắc độc lập, trung thực, có quyền bảo lưu ý kiến pháp lý và tham gia xử lý các vụ việc phức tạp, kể cả tranh chấp quốc tế.

Dự thảo Nghị quyết đã bước đầu thiết kế tương đối rõ các yếu tố cấu thành chế định luật sư công. Đồ hoạ: Bảo Anh
Dự thảo Nghị quyết đã bước đầu thiết kế tương đối rõ các yếu tố cấu thành chế định luật sư công, từ khái niệm, tiêu chuẩn, phạm vi hoạt động đến quyền, nghĩa vụ và chế độ, chính sách.
Đáng chú ý là đã xác định luật sư công là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan… được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư để thực hiện công việc pháp lý nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước; nhấn mạnh nguyên tắc độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan trong hoạt động nghề nghiệp; quy định quyền bảo lưu ý kiến pháp lý và từ chối thực hiện chỉ đạo trái pháp luật, đây là một điểm tiến bộ, thể hiện nỗ lực bảo đảm tính chuyên nghiệp; mở rộng phạm vi hoạt động, bao gồm cả tư vấn, tham gia tố tụng, xử lý tranh chấp quốc tế, khiếu nại phức tạp…
Những thiết kế này cho thấy định hướng xây dựng một đội ngũ luật sư công có năng lực thực chất, không chỉ mang tính hình thức.
Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi không nằm ở sự cần thiết của chế định này mà ở cách thức thiết kế và vận hành của nó.
Trước hết, dự thảo chưa làm rõ mối quan hệ giữa luật sư công và luật sư hành nghề theo Luật Luật sư, dẫn đến những lúng túng về bản chất nghề nghiệp và cơ chế quản lý. Luật sư công vừa được cấp chứng chỉ hành nghề, tham gia tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, nhưng lại bị giới hạn chỉ hoạt động trong khu vực Nhà nước, không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho các chủ thể ngoài khu vực này. Điều này đặt ra câu hỏi liệu luật sư công có còn là “luật sư” theo nghĩa đầy đủ hay chỉ là một dạng công chức pháp lý đặc thù, đồng thời có thể tạo ra sự bất bình đẳng nhất định với luật sư tư trong việc tiếp cận cơ hội nghề nghiệp và nguồn lực.
Bên cạnh đó, dù dự thảo khẳng định hoạt động của luật sư công không trùng lặp với pháp chế, nhưng trên thực tế, ranh giới giữa hai chức năng này rất khó phân định khi cả hai đều tham gia tư vấn pháp lý, xây dựng chính sách và xử lý tranh chấp. Nếu không có tiêu chí rõ ràng, nguy cơ chồng lấn chức năng, đùn đẩy trách nhiệm hoặc ngược lại là tập trung quyền lực pháp lý vào một nhóm nhỏ là điều khó tránh khỏi.
Một vấn đề khác là trách nhiệm xây dựng và phát triển đội ngũ luật sư công vẫn chưa được xác định rõ ràng trong dự thảo. Việc đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá chất lượng và xây dựng lộ trình phát triển nghề nghiệp chưa có thiết kế cụ thể, trong khi đây lại là yếu tố quyết định thành công của mô hình. Nếu thiếu một chiến lược dài hạn và cơ chế bảo đảm chất lượng, rất dễ dẫn đến tình trạng hành chính hóa đội ngũ luật sư công, không tạo được lớp chuyên gia pháp lý có năng lực thực sự, đặc biệt trong các lĩnh vực đòi hỏi trình độ cao như tranh tụng quốc tế.
Đồng thời, cơ chế cho phép các cơ quan khác đề nghị sử dụng luật sư công của cơ quan có đội ngũ này, tuy nhằm mục tiêu tối ưu hóa nguồn lực nhưng lại tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối, khi một số cơ quan có thể bị dồn quá nhiều vụ việc, trong khi các cơ quan khác lại không phát triển năng lực nội tại, dẫn đến sự phụ thuộc và giảm hiệu quả chung của hệ thống.
Ở cấp độ sâu hơn, vấn đề đáng quan tâm nhất là bảo đảm tính độc lập và tránh xung đột lợi ích trong hoạt động của luật sư công. Mặc dù dự thảo đã quy định quyền từ chối chỉ đạo trái pháp luật và yêu cầu tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, nhưng trong thực tế, khi luật sư công đồng thời là công chức hoặc người hưởng lương từ ngân sách, chịu sự quản lý hành chính của chính cơ quan mà mình bảo vệ lợi ích, việc duy trì sự độc lập hoàn toàn là một thách thức không nhỏ. Nguy cơ thiên lệch về phía lợi ích của Nhà nước, hạn chế khả năng phản biện hoặc khó đưa ra ý kiến pháp lý trái chiều là điều cần được tính đến, nhất là khi bản chất của nghề luật sư luôn gắn với tính độc lập và trách nhiệm bảo vệ sự thật khách quan.
Cùng với đó, việc luật sư công vẫn phải thực hiện các nhiệm vụ hành chính song song với công việc pháp lý chuyên sâu cũng đặt ra bài toán về hiệu quả, khi khó có thể kỳ vọng một cá nhân vừa hoàn thành tốt công vụ, vừa xử lý các vụ việc pháp lý phức tạp đòi hỏi thời gian và sự tập trung cao độ. Nếu không có cơ chế chuyên trách hóa hợp lý, mô hình này có thể rơi vào tình trạng hình thức hoặc quá tải, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động.

TS.Đinh Văn Minh, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, TTCP. Ảnh: Huy Trần
Từ những phân tích trên, có thể thấy việc thí điểm chế định luật sư công là một bước đi cần thiết nhưng không đơn giản. Để mô hình này thực sự phát huy hiệu quả, cần làm rõ hơn bản chất và vị trí của luật sư công trong hệ thống pháp luật, phân định rạch ròi với chức năng pháp chế, thiết kế cơ chế bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp một cách thực chất. Đồng thời, xây dựng chiến lược đào tạo và sử dụng nhân lực dài hạn, gắn với yêu cầu chuyên nghiệp hóa. Bên cạnh đó, cần có cơ chế điều phối hợp lý để tránh tình trạng quá tải hoặc phân bổ nguồn lực không đồng đều, cũng như chính sách đãi ngộ đủ sức thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao.
Nếu được thiết kế và triển khai một cách bài bản, luật sư công có thể trở thành một công cụ hữu hiệu giúp Nhà nước nâng cao năng lực pháp lý trong bối cảnh mới. Ngược lại, nếu thiếu sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đây có thể chỉ là một thử nghiệm mang tính hình thức, thậm chí tạo thêm gánh nặng cho bộ máy.
Chính vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện dự thảo trên cơ sở tham vấn rộng rãi và học hỏi có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Việc thí điểm chế định luật sư công là một bước đi cần thiết nhưng không đơn giản. Nếu được thiết kế và triển khai một cách bài bản, luật sư công có thể trở thành một công cụ hữu hiệu giúp Nhà nước nâng cao năng lực pháp lý trong bối cảnh mới.
TS.Đinh Văn Minh, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, TTCP
(Thanh tra) - Từ yêu cầu thực tiễn trong xử lý đơn thư và tiếp công dân, hình thức tiếp công dân trực tuyến đã từng bước được triển khai như một giải pháp linh hoạt. Việc được quy định chính thức trong Luật số 136/2025/QH15 không chỉ ghi nhận một cách làm hiệu quả, mà còn đặt ra yêu cầu tổ chức thực hiện đồng bộ, gắn với trách nhiệm cụ thể của các cơ quan.
Lan Anh
Thái Hải
TS. Đinh Văn Minh, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, TTCP
Lan Anh
TS.Đinh Văn Minh - Nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, TTCP
Thư Ký
Thanh Lương
H.T
Bùi Bình
TS.Đinh Văn Minh, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, TTCP
Thu Huyền
Hải Hà
Minh Nghĩa
Thanh Lương
Phan Tú
Phúc Anh
PV