Theo dõi Báo Thanh tra trên
Đặng Kim Hoa, Phó Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp
Chủ nhật, 26/04/2026 - 14:00
(Thanh tra) - Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và gia tăng các tranh chấp pháp lý phức tạp, việc xây dựng chế định luật sư công đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam. Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia cho thấy, một mô hình luật sư công linh hoạt, tinh gọn, kết hợp hiệu quả giữa khu vực công và tư không chỉ góp phần bảo vệ lợi ích Nhà nước mà còn nâng cao chất lượng hoạch định chính sách, bảo đảm công bằng xã hội và tăng cường năng lực ứng phó với các rủi ro pháp lý xuyên biên giới.
Việc xây dựng đội ngũ luật sư công không chỉ là bước đi cần thiết để bảo vệ lợi ích Nhà nước mà còn là trụ cột đảm bảo công bằng xã hội. Từ thực tiễn của các quốc gia như Mỹ, Anh, Pháp, Singapore hay Trung Quốc, Việt Nam có thể rút ra những bài học then chốt để định hình mô hình này một cách hiệu quả.

Đồ họa: Minh Nguyệt
Thứ nhất, cần xác lập tiêu chuẩn của luật sư công vừa bảo đảm về chuyên môn luật sư vừa bảo đảm cả chuẩn mực về đạo đức.
Kinh nghiệm từ Úc và Hồng Kông cho thấy, tiêu chuẩn của luật sư công thường cao hơn luật sư tư. Bài học cho Việt Nam là cần xây dựng một “bộ lọc” nhân sự khắt khe. Bên cạnh chứng chỉ hành nghề luật sư thông thường, luật sư công cần đáp ứng các tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị và kiến thức quản lý Nhà nước. Việc yêu cầu số năm kinh nghiệm hành nghề thực tế trước khi tuyển dụng vào khu vực công sẽ giúp đảm bảo đội ngũ này có đủ bản lĩnh để đối đầu với các tranh chấp quốc tế phức tạp hoặc tư vấn chính sách ở tầm vĩ mô.
Thứ hai, linh hoạt mô hình luật sư công, cần có sự kết hợp hợp lý giữa luật sư công làm việc cho Nhà nước với đội ngũ luật sư hành nghề ở khu vực tư nhân.
Một bài học quan trọng từ mô hình của Mỹ và Anh là tính linh hoạt trong sử dụng nguồn lực. Việt Nam không nhất thiết chỉ xây dựng một đội ngũ luật sư công để giải quyết các công việc pháp lý ở khu vực công mà thay vào đó, có thể áp dụng mô hình hỗn hợp: Duy trì một lực lượng nòng cốt là cán bộ, công chức, viên chức tại các bộ, ngành (như cách vận hành của Văn phòng Tổng Chưởng lý Singapore) để bảo vệ lợi ích công, đồng thời thiết lập cơ chế “thuê khoán” các luật sư tư nhân giỏi theo từng vụ việc cụ thể. Điều này giúp tối ưu hóa ngân sách và tận dụng được trí tuệ của những chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực chuyên sâu như đầu tư quốc tế hay sở hữu trí tuệ.

Đồ họa: Minh Nguyệt
Thứ ba, phân định rõ chức năng, từ bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước đến bảo vệ người yếu thế.
Quốc tế chia luật sư công thành ba nhóm: Công tố; luật sư chính phủ; luật sư bào chữa công. Tại Việt Nam, cần phân định rõ vai trò của luật sư công để tránh chồng chéo với các chức danh tư pháp hiện có.
Hoạt động công tố và trợ giúp pháp lý đang được thực hiện rất tốt. Do đó, trước mắt cần tập trung vào mảng công việc liên quan đến bảo vệ lợi ích Nhà nước trong các vụ kiện đầu tư quốc tế (ISD), các vụ kiện hành chính, hay vấn đề liên quan đến tư vấn ban hành văn bản hành chính, dự án đầu tư tránh các rủi ro pháp lý.
Thứ tư, thiết lập cơ chế quản lý tập trung và thống nhất, có sự điều phối của các cơ quan quản lý Nhà nước.
Hầu hết các nước phát triển đều đặt luật sư công dưới sự quản lý hoặc điều phối của Bộ Tư pháp hoặc cơ quan pháp lý cao nhất của Chính phủ. Bài học cho Việt Nam là cần một đầu mối quản lý thống nhất về tiêu chuẩn, đào tạo và điều phối nguồn lực luật sư công trên toàn quốc.
Việc này không chỉ giúp đảm bảo tính thống nhất trong việc thực thi pháp luật mà còn tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng giữa trung ương và địa phương, đặc biệt là trong bối cảnh các tỉnh, thành phố đang đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài và đối mặt với nhiều rủi ro pháp lý xuyên biên giới.
Từ kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho thấy việc hình thành luật sư công là yêu cầu cấp thiết nhằm thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, đồng thời đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Mô hình luật sư công cần hướng tới sự tinh gọn, không làm phát sinh biên chế bằng cách tối ưu hóa lực lượng sẵn có.
Một là, định danh rõ ràng vị thế “luật sư công”.
Khuyến nghị đầu tiên là cần luật hóa khái niệm luật sư công trong văn bản của Quốc hội. Theo đó, luật sư công được xác định là cán bộ, công chức, viên chức hoặc sĩ quan được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư để chuyên trách bảo vệ lợi ích công. Việc định danh này giúp tách bạch vai trò tham mưu hành chính thuần túy với vai trò đại diện pháp lý chuyên nghiệp.
Hai là, xác lập phạm vi công việc chuyên biệt và trọng tâm.
Hoạt động của luật sư công cần tập trung vào 4 nhóm nhiệm vụ mang tính “xương sống”, bao gồm: Đại diện Nhà nước trong các tranh chấp đầu tư quốc tế và các vụ kiện dân sự, hành chính phức tạp; tư vấn pháp lý cho các dự án kinh tế - xã hội trọng điểm; tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo từ gốc; thực hiện các nhiệm vụ pháp lý đặc thù theo yêu cầu của người đứng đầu cơ quan.

Đồ họa: Minh Nguyệt
Ba là, mô hình “Kiêm nhiệm chức danh”: Giải pháp đột phá về tổ chức.
Đây là đề xuất trọng tâm nhằm giải quyết bài toán tinh gọn bộ máy. Thay vì thành lập cơ quan độc lập, Việt Nam nên công nhận chức danh luật sư công cho những người đủ điều kiện đang công tác tại các cơ quan Nhà nước. Họ sẽ đóng “hai vai”: Vừa thực hiện nghĩa vụ công chức, vừa có đầy đủ quyền năng của luật sư khi xử lý vụ việc, giúp tối ưu hóa nguồn lực sẵn có tại chỗ.
Bốn là, chuẩn hóa tiêu chuẩn và mở rộng nguồn nhân lực.
Để đảm bảo tính tinh nhuệ, luật sư công ngoài việc đáp ứng tiêu chuẩn công chức và luật sư chung, cần có ít nhất 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật. Bên cạnh đó, cần linh hoạt nguồn cung nhân lực thông qua cơ chế “thuê ngoài” (outsourcing) - ký hợp đồng vụ việc với các chuyên gia, luật sư giỏi từ khu vực tư nhân, tạo ra sự kết hợp sức mạnh giữa khu vực công và tư.
Năm là, có cơ chế bảo đảm đãi ngộ xứng tầm và quyền bảo lưu ý kiến.
Để luật sư công yên tâm cống hiến, cần có chính sách đãi ngộ đặc thù như hỗ trợ hàng tháng bằng 100% hệ số lương hiện hưởng và phụ cấp theo vụ việc. Đặc biệt, cần thiết lập cơ chế bảo vệ nghề nghiệp: Luật sư công có quyền bảo lưu ý kiến pháp lý, từ chối các chỉ đạo trái pháp luật và được miễn trừ trách nhiệm nếu hoạt động liêm chính, khách quan.
Sáu là, lộ trình thí điểm trước khi luật hóa.
Trước khi sửa đổi toàn diện Luật Luật sư, Việt Nam nên triển khai thí điểm mô hình luật sư công kiêm nhiệm thông qua một Nghị quyết của Quốc hội. Việc thí điểm này sẽ là cơ sở thực tiễn quan trọng để đánh giá tính hiệu quả, từ đó tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng một lực lượng luật sư công tinh nhuệ, đủ tầm bảo vệ chủ quyền pháp lý quốc gia trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.
Việc thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp trên sẽ giúp hình thành một định chế pháp lý mới, vừa đảm bảo yêu cầu về tinh gọn bộ máy, vừa đáp ứng yêu cầu chuyên nghiệp hóa hoạt động tư pháp trong giai đoạn mới.
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và gia tăng các tranh chấp pháp lý phức tạp, việc xây dựng chế định luật sư công đang trở thành yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam. Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia cho thấy, một mô hình luật sư công linh hoạt, tinh gọn, kết hợp hiệu quả giữa khu vực công và tư không chỉ góp phần bảo vệ lợi ích Nhà nước mà còn nâng cao chất lượng hoạch định chính sách, bảo đảm công bằng xã hội và tăng cường năng lực ứng phó với các rủi ro pháp lý xuyên biên giới.
Đặng Kim Hoa, Phó Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp
(Thanh tra) - Luật sư công là một thiết chế pháp lý phổ biến ở nhiều quốc gia, được tổ chức và vận hành khác nhau tùy theo hệ thống pháp luật. Đây là đội ngũ luật sư chuyên nghiệp làm việc trong khu vực Nhà nước, nhằm cung cấp dịch vụ pháp lý vì lợi ích công, đặc biệt cho người yếu thế hoặc trong các vụ việc liên quan đến lợi ích Nhà nước.
Đặng Kim Hoa, Phó Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp
TS. Phạm Tuấn Anh, Phó Trưởng khoa Nghiệp vụ 2, Trường Cán bộ Thanh tra
Nguyệt Anh
TS.Đinh Văn Minh, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, TTCP
Lan Anh
Quang Dân
Hòa Bình
Đặng Kim Hoa, Phó Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp
BTT
Theo TTXVN
Trung Hà
Chu Tuấn - Thế Bình
Bùi Bình
Thu Huyền
Văn Thanh
Đăng Tân