Theo dõi Báo Thanh tra trên
Thứ sáu, 27/10/2017 - 09:10
(Thanh tra) - Theo Thanh tra tỉnh Hải Dương, về việc kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý sau thanh tra, tại Điều 15, 18, 21 và 24 Luật Thanh tra năm 2010 quy định, các cơ quan thanh tra từ cấp Sở trở lên có nhiệm vụ kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định xử lý sau thanh tra, như Thanh tra tỉnh kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định xử lý sau thanh tra của Giám đốc Sở, Chủ tịch UBND cấp huyện khi cần thiết.
Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương Nguyễn Dương Thái trao tặng Bằng khen cho các đơn vị có thành tích xuất sắc trong thực hiện Luật Thanh tra.
Tuy nhiên, quy định này mới chỉ dừng lại ở mức xác định những nguyên tắc chung và chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về việc này và thực tế nhiều câu hỏi đặt ra vẫn còn bị bỏ ngỏ, chưa có quy định cụ thể như thế nào là “khi cần thiết” phải tiến hành kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra, quyết định xử lý sai thanh tra; tiêu chí, căn cứ nào để xác định “là cần thiết”.
Việc tiến hành kiểm tra cần tập trung xem xét, đánh giá các vấn đề gì? Trách nhiệm của đơn vị, cá nhân tiến hành kiểm tra? Phạm vi kiểm tra? Thời gian kiểm tra? Thời hiệu kiểm tra? Xử lý kết quả kiểm tra ra sao? Khi tiến hành kiểm tra thì trách nhiệm chuyển hồ sơ thanh tra như thế nào…? Những nội dung này còn mông lung, chưa cụ thể nên vẫn còn gặp không ít khó khăn khi triển khai thực hiện.
Đối với quy định việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý sau thanh tra mặc dù đã quy định Thanh tra tỉnh tại Điểm d, Khoản 1, Điều 21; Thanh tra Sở tại Khoản 7, Điều 24; Thanh tra huyện tại Điểm c, Khoản 1, Điều 27, nhưng lại chưa có quy trình hướng dẫn cụ thể để áp dụng. Trong trường hợp phát hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý sau thanh tra không chính xác, hợp pháp thì xử lý sau thanh tra cũng cần phải quy định rõ.
Về việc sử dụng con dấu của đoàn thanh tra, tại Điều 21 Nghị định số 86/2011/NĐ- CP ngày 22/9/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra năm 2010 có quy định về việc đoàn thanh tra được phép sử dụng con dấu, đây là một bước tiến mới tạo thuận lợi cho hoạt động của đoàn thanh tra. Tuy nhiên, thực tế triển khai thực hiện gặp khó khăn khi một lúc tiến hành nhiều đoàn thanh tra với phạm vi rộng thì việc sử dụng con dấu như thế nào, chưa áp dụng hoặc áp dụng không thống nhất quy định này. Việc sử dụng con dấu cho những văn bản nào là cần thiết trong quá trình thanh tra cũng có cách hiểu và áp dụng không thống nhất. Thực tế tại địa phương, trưởng đoàn thanh tra chỉ được kí báo cáo kết quả thanh tra và các văn bản theo mẫu và chưa được sử dụng con dấu cho nhiều loại văn bản như giấy mời làm việc, biên bản làm việc, biên bản xác minh…
Về thanh tra lại, Luật Thanh tra năm 2010 và Nghị định số 86/2011/NĐ- CP đã có những quy định về thẩm quyền thanh tra lại, trình tự, thủ tục thanh tra lại. Nếu áp dụng quy định về thanh tra lại cũng rất khó, vì nhiều nội dung thanh tra, phạm vi thanh tra, đối tượng của thanh tra lại, giá trị pháp lý của kết luận thanh tra cũng chưa được hướng dẫn cụ thể.
Trong hoạt động thanh tra chuyên ngành, theo Thanh tra tỉnh Hải Dương, Điều 4 Luật Thanh tra năm 2010 quy định cơ quan thực hiện chức năng thanh tra gồm cơ quan thanh tra nhà nước và cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Khoản 6 Điều 3, Luật Thanh tra quy định cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành là cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ngành lĩnh vực bao gồm tổng cục, cục thuộc bộ, chi cục thuộc sở.
Như vậy, tại Điều 7, Điều 8 Nghị định 07/2012/NĐ- CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động tanh tra chuyên ngành có quy định một số cục thuộc tổng cục và tương đương, chi cục thuộc cục và tương đương là cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành là trái với Điều 3, Điều 4 Luật Thanh tra năm 2010.
Mặt khác, xuất phát từ thực tiễn có nhiều ngành, lĩnh vực quản lý có phạm vi rộng, đối tượng nhiều thì chỉ bộ phận thanh tra nhà nước không thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu của quản lý do bị hạn chế về biên chế, vật lực…
Phải chăng nên nghiên cứu lại hệ thống các cơ quan thanh tra nhà nước và cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành theo hướng thống nhất giữa nghị định với luật và mở rộng hơn phạm vi cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành.
Điều 37 Luật Thanh tra năm 2010 quy định có 3 hình thức thanh tra gồm thanh tra theo kế hoạch thanh tra, thanh tra thường xuyên và thanh tra đột xuất, trong đó thanh tra thường xuyên “được tiến hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành”.
Ngoài quy định này, pháp luật thanh tra hiện hành chưa có quy định nào khác quy định về trình tự, thủ tục, hình thức, cách thức tiến hành trong hoạt động thanh tra thường xuyên. Do đó, đề xuất cần quy định rõ những vấn đề mang tính cốt lõi, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động thanh tra thường xuyên của các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, đồng thời do đặc thù của hoạt động này nên cần quy định mang tính đơn giản, dễ thực hiện.
B.B.Đ
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Sau khi đơn vị hành chính cấp huyện chấm dứt hoạt động, một số quy định về kiểm tra, giám sát chất lượng nước sạch trong Thông tư số 52 không còn phù hợp. Bộ Y tế đang sửa đổi nhằm bảo đảm thống nhất pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý.
Thanh Lương
(Thanh tra) - Trong nửa đầu năm, Cục Quản lý lao động ngoài nước đã tiếp nhận và xử lý 43 đơn thư khiếu nại, kiến nghị, phản ánh vụ việc liên quan đến lĩnh vực đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Thành Công
Trang Nguyệt
H.T
Trang Nguyệt
Nhóm PV
Phương Hiếu (Thực hiện)
Văn Thanh
Cảnh Nhật
Thanh Lương
Thanh Lương
Thanh Lương
Nguyễn Điểm
Minh Tân
Lê Hữu Chính
Minh Nguyệt