Theo dõi Báo Thanh tra trên
Thứ ba, 31/05/2016 - 09:12
(Thanh tra)- Năm 2008, vợ chồng ông Nguyễn Văn B, 85 tuổi (vợ là bà Phạm Thị C) được UBND huyện cấp giấy chứng nhận (GCN) quyền sử dụng (QSD) 585m2 đất ở. Sau ngày bà Phạm Thị C qua đời (tháng 3/2009), ông Nguyễn Văn B đã làm hợp đồng tặng cho QSD, chia tách đất cho 4 người con trai (nay những người này đều đã được UBND huyện cấp GCNQSD đất). Ông B về ở cùng với vợ chồng người con trai thứ tư là anh Nguyễn Bá K (anh K được ông chia 356,5m2 và ngày 20/10/2009 đã được cấp GCNQSD đất (số H 01535/QSDĐ, đứng tên anh K).
Năm 2012, anh K qua đời. Cuối năm 2015, nghĩ rằng người con dâu (chị Nguyễn Thị H) và cháu nội đối xử “tệ” với mình, ông B gửi đơn ra tòa án huyện, kiện chị H, đề nghị hủy hợp đồng tặng cho QSD đất đối với con trai thứ tư của ông (anh Nguyễn Bá K) là người đã chết. Nhiều người dân ở địa phương bàn tán về vụ kiện, cho rằng hợp đồng ông B tặng cho QSD đất chỉ dành riêng cho con trai của ông (anh K) chứ không phải tặng cho vợ anh K, nên con dâu của ông không phải là đối tượng bị khởi kiện (bị đơn); đối tượng bị khởi kiện đúng ra phải là anh K.
Vậy tòa án nên xử lý ra sao: Trả lại đơn khởi kiện hay thụ lý giải quyết?
Ý KIẾN CỦA CHÚNG TÔI
I. Hợp đồng tặng cho QSD đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao QSD đất cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về đất đai.
Điều 723 Bộ luật Dân sự quy định:
Hợp đồng tặng cho QSD đất bao gồm các nội dung sau đây:
1. Tên, địa chỉ của các bên;
2. Lý do tặng cho QSD đất;
3. Quyền, nghĩa vụ của các bên;
4. Loại đất, hạng đất, diện tích, vị trí, số hiệu, ranh giới và tình trạng đất;
5. Thời hạn sử dụng đất còn lại của bên tặng cho;
6. Quyền của người thứ ba đối với đất được tặng cho;
7. Trách nhiệm của các bên khi vi phạm hợp đồng.
Theo hợp đồng: “bên tặng cho” là ông Nguyễn Văn B; còn “bên được tặng cho” là con trai ông, anh Nguyễn Bá K (đã chết), không liên quan đến chị H (vợ anh K). Mặt khác, không có quy định nào của pháp luật buộc vợ của người được tặng cho QSD đất phải làm “nghĩa vụ bị đơn” thay cho người chồng đã chết, trừ trường hợp “nghĩa vụ” này đã được hai bên cam kết thực hiện trong hợp đồng tặng cho QSD đất giữa ông Nguyễn Văn B với anh Nguyễn Bá K. Vì vậy, người dân có lý khi cho rằng chị H không thể là đối tượng bị khởi kiện (bị đơn) trong vụ kiện này.
II. Tại mục b khoản 1 Điều 168, Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện trong trường hợp “sự việc đã được giải quyết bằng quyết định đã có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trừ trường hợp đòi QSD đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện”.
Sự việc ông Nguyễn Văn B tặng cho QSD đất đã được công nhận và giải quyết bằng quyết định đã có hiệu lực của UBND huyện là cơ quan nhà nước có thẩm quyền (quyết định cấp GCNQSD đất cho anh Nguyễn Bá K). Mặt khác, đây là “đất tặng cho” chứ không phải “đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ”, nên căn cứ quy định nêu trên, tòa án phải trả lại đơn khởi kiện.
III. Nếu đã thụ lý rồi, thì tòa án cần đình chỉ vụ án theo quy định tại mục i, Khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự: Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi thuộc “các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 168 của Bộ Luật này mà tòa án đã thụ lý”.
IV. Thực chất đây là vụ việc đòi QSD đất. Nếu nguyên đơn khởi kiện theo trình tự “tranh chấp quyền thừa kế” quy định tại Khoản 5 Điều 25 hoặc theo trình tự yêu cầu toà án xác định “QSD tài sản” quy định tại Khoản 7 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì phù hợp và có thể không thuộc trường hợp bị trả lại đơn.
Luật gia, nhà báo Nguyễn Chấn
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương hoàn thiện báo cáo sơ bộ kết quả tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) trước ngày 10/7/2026, bảo đảm rà soát thực chất, kịp thời phát hiện và đề xuất xử lý những vướng mắc, bất cập.
T.H
(Thanh tra) - Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 344/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu tại cuộc họp về dự án Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi).
Thư Kỳ
Phương Hiếu
Thanh Lương
Thành Công
Trọng Tài
Văn Thanh
Dương Nguyễn
Minh Nguyệt
Thu Huyền
Hoàng Hưng
Hương Giang
Hương Giang
Cảnh Nhật
Trọng Tài
Thái Hải
Hương Giang