Theo dõi Báo Thanh tra trên
Thứ sáu, 07/07/2017 - 10:55
(Thanh tra)- Được quy định tại Thông tư số 02/2016/TT-TTCP sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại (KN) hành chính.
Sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 5 “Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được KN quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền giải quyết mà không thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 11 của Luật KN, người có thẩm quyền giải quyết KN lần đầu hoặc lần hai phải thụ lý giải quyết. Đối với trường hợp nhiều người KN về cùng một nội dung và cử người đại diện để trình bày nội dung KN thì thụ lý khi trong đơn KN có đầy đủ chữ ký của những người KN và có văn bản cử người đại diện trình bày nội dung KN. Trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do trong văn bản thông báo cho người KN”.
Bổ sung Khoản 3 Điều 7: Khi thời hạn xác minh nội dung KN đã hết mà người giải quyết KN hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được giao tiến hành xác minh nội dung KN chưa thực hiện xong việc xác minh thì người giải quyết KN xem xét gia hạn thời gian xác minh. Việc gia hạn không làm cho thời gian giải quyết vượt quá thời hạn giải quyết KN.
Quyết định về việc gia hạn thời gian xác minh thực hiện theo Mẫu số 04A-KN ban hành kèm theo Thông tư này.
Sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 12 “trong quá trình xác minh nội dung KN, người giải quyết KN hoặc người có trách nhiệm xác minh gửi văn bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung KN. Văn bản yêu cầu được thực hiện theo Mẫu số 06-KN ban hành kèm theo Thông tư này. Nội dung làm việc được lập thành biên bản ghi rõ thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung, các thông tin, tài liệu, bằng chứng được giao, nhận tại buổi làm việc và có chữ ký của các bên. Biên bản được lập thành ít nhất hai bản, mỗi bên giữ một bản. Biên bản làm việc được thực hiện theo Mẫu số 05-KN ban hành kèm theo Thông tư này”.
Sửa đổi, bổ sung Khoản 4 Điều 13 “các thông tin, tài liệu, bằng chứng thu thập trong quá trình giải quyết KN phải được sử dụng đúng quy định, quản lý chặt chẽ; thực hiện việc cung cấp hoặc công bố thông tin, tài liệu, bằng chứng theo quy định của pháp luật”.
Sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 15 “khi xét thấy cần có sự đánh giá về nội dung liên quan đến chuyên môn, kỹ thuật làm căn cứ cho việc kết luận nội dung KN thì người giải quyết KN quyết định việc trưng cầu giám định. Việc trưng cầu giám định thực hiện theo Mẫu số 08A-KN ban hành kèm theo Thông tư này”.
Sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 18 “người có trách nhiệm xác minh hoặc Tổ trưởng Tổ xác minh phải báo cáo kết quả xác minh nội dung KN bằng văn bản với người giải quyết KN hoặc người ban hành quyết định thành lập Tổ xác minh. Báo cáo kết quả xác minh của Tổ xác minh phải được các thành viên trong Tổ xác minh thảo luận, đóng góp ý kiến. Trường hợp các thành viên có ý kiến khác nhau về kết quả xác minh thì được quyền bảo lưu ý kiến của mình và ghi rõ trong báo cáo kết quả xác minh”.
Sửa đổi, bổ sung Khoản 1 và Khoản 2 Điều 21 “các trường hợp đối thoại: Trong quá trình giải quyết KN quyết định hành chính, hành vi hành chính, người giải quyết KN lần đầu tiến hành đối thoại nếu yêu cầu của người KN và kết quả xác minh nội dung KN còn khác nhau; trong quá trình giải quyết KN lần hai, người giải quyết KN phải tiến hành đối thoại; trong quá trình giải quyết KN quyết định kỷ luật cán bộ, công chức, người giải quyết KN lần đầu, lần hai phải tiến hành đối thoại.
Thành phần tham gia đối thoại, nội dung đối thoại: Người giải quyết KN, người KN hoặc người đại diện, người được ủy quyền, luật sư, trợ giúp viên pháp lý của người KN, người bị KN, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan; người giải quyết KN có trách nhiệm thông báo bằng văn bản với người KN, người bị KN, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức có liên quan biết thời gian, địa điểm, nội dung đối thoại. Trường hợp người KN hoặc người đại diện hợp pháp vắng mặt khi được thông báo bằng văn bản đến lần thứ hai thì người giải quyết KN lập biên bản chấm dứt đối thoại.
Nội dung đối thoại, người giải quyết KN phải nêu rõ nội dung cần đối thoại, kết quả xác minh nội dung KN; người tham gia đối thoại có quyền trình bày ý kiến, bổ sung thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến KN và yêu cầu của mình”.
B.B.Đ
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Xây dựng cơ sở dữ liệu lớn và ứng dụng AI trong lĩnh vực pháp luật được đánh giá là yêu cầu cấp thiết nhằm số hóa toàn bộ quy trình xây dựng văn bản, nâng cao chất lượng thi hành pháp luật, giảm mâu thuẫn, chồng chéo và hình thành hệ sinh thái dữ liệu pháp lý hiện đại, dùng chung.
Minh Nguyệt
(Thanh tra) - Sau 15 năm thực hiện, Luật An toàn Thực phẩm năm 2010 đã bộc lộ những bất cập, chồng chéo trong công tác quản lý giữa các ngành. Dự thảo chính sách của Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đề xuất thiết lập một cơ quan đầu mối thống nhất từ trung ương đến địa phương nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý.
Minh Nguyệt
Nam Dũng
Hải Hà
Trang Nguyệt
Lan Anh
Văn Thanh
Theo TTXVN
Trần Kiên
Hương Giang
Văn Thanh
Minh Nguyệt
Đan Quế
Trọng Tài
Đan Quế
Thanh Lương
Thiên Tâm