Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

Phát triển công nghiệp văn hoá từ sức mạnh mềm trên biển

Bài 1: Từ nguồn lực văn hoá đến sức mạnh quốc gia

Bảo Anh - Vưu Lều Tôn

Thứ sáu, 28/08/2026 - 10:31

(Thanh tra) - Trong kỷ nguyên số, văn hóa không chỉ là di sản cần gìn giữ mà còn là nguồn lực có thể tạo ra sản phẩm sáng tạo, thị trường, bản sắc và sức mạnh mềm. Muốn biến tiềm năng ấy thành giá trị, Việt Nam phải đồng thời đổi mới tư duy và tháo gỡ những điểm nghẽn thể chế trên toàn bộ chuỗi công nghiệp văn hóa.

Một bước chuyển quan trọng đang diễn ra trong tư duy phát triển văn hóa ở Việt Nam: Từ chỗ chủ yếu coi văn hóa là lĩnh vực cần bảo tồn, chăm lo và đầu tư sang nhìn nhận văn hóa như một nguồn lực trực tiếp của phát triển.

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị (Nghị quyết 80) thể hiện rõ bước phát triển này khi xác định văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, đồng thời đặt văn hóa trong quan hệ với kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và sức mạnh mềm quốc gia. Bảo tồn vẫn là nền tảng, nhưng giá trị văn hóa cần được đưa vào đời sống và phục vụ quá trình phát triển đất nước.

Sự chuyển biến ấy cần thiết bởi cách con người sáng tạo, tiếp nhận và lan truyền văn hóa đã thay đổi. Một bộ phim, trò chơi, thiết kế hay triển lãm số có thể vượt biên giới trong thời gian rất ngắn; ngược lại, nếu không đủ năng lực sáng tạo và phân phối nội dung của mình, không gian văn hóa số dễ bị lấp đầy bởi sản phẩm và hệ giá trị từ bên ngoài.

Ảnh: Trung Hiển, Đồ hoạ: Bảo Anh

Đạo diễn, nghệ sĩ đa phương tiện Nguyễn Quốc Hoàng Anh nhận định, Nghị quyết 80 đã đặt văn hóa vào trung tâm câu chuyện phát triển quốc gia. Khi văn hóa có mục tiêu phát triển cụ thể thì những vấn đề về chủ thể sản xuất, tài sản trí tuệ, thương hiệu và thị trường trở thành yêu cầu thực tế.

AI càng làm yêu cầu này cấp thiết. Công nghệ có thể hỗ trợ phục dựng tư liệu, dịch đa ngôn ngữ, lập chỉ mục kho dữ liệu hay cá nhân hóa trải nghiệm bảo tàng, nhưng cũng làm tăng nguy cơ sao chép, làm giả và sử dụng tài sản trí tuệ không rõ quyền.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn cảnh báo tốc độ quản lý có thể tụt lại so với công nghệ; các vấn đề như AI, bản quyền số và kinh tế nền tảng đòi hỏi năng lực thể chế và nhân lực chính sách tương ứng. Vì vậy, bảo vệ văn hóa trong thời đại số phải đi cùng năng lực số hóa, xác thực, sáng tạo và phân phối nội dung Việt Nam.

Công nghiệp văn hóa là một cơ chế để biến nhận thức đó thành giá trị. Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, năm 2022 các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp ước 4,04% GDP, tạo khoảng một triệu việc làm; giá trị sản xuất giai đoạn 2018-2022 ước khoảng 44 tỷ USD.

Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 đặt mục tiêu đến năm 2030 công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP, tăng trưởng bình quân khoảng 10% mỗi năm và hướng tới 9% GDP vào năm 2045. Khoảng cách ấy vừa cho thấy dư địa lớn, vừa cho thấy Việt Nam phải chuyển từ khai thác sản phẩm đơn lẻ sang xây dựng hệ sinh thái.

Tài nguyên văn hóa có một lợi thế đặc biệt: Nếu quản trị đúng, giá trị có thể được tái tạo nhiều lần mà không làm mất đi giá trị gốc. Một hiện vật có thể đồng thời hiện diện trong bảo tàng, mô hình 3D, phim tài liệu, sách giáo dục và trải nghiệm thực tế ảo.

Bảo tàng Quảng Ninh đã triển khai tham quan ảo, thuyết minh tự động, vé điện tử, 3D, VR/AR. Năm 2025 đón vị khách thứ một triệu và doanh thu ước gần 30 tỷ đồng. Đây không chỉ là câu chuyện doanh thu, mà là minh chứng công nghệ có thể mở rộng khả năng tiếp cận di sản và tạo thêm nguồn lực cho bảo tồn.

Phát triển công nghiệp văn hóa vì thế là tổ chức một chuỗi: Bảo tồn tài nguyên, xác lập quyền, khuyến khích sáng tạo, hình thành sản phẩm và thị trường, từ đó tạo giá trị kinh tế, xã hội và sức mạnh mềm.

Nếu tài nguyên là điều kiện cần thì thể chế quyết định tài nguyên có đi được vào chuỗi giá trị hay không. Nghị quyết số 66-NQ/TW xác định công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá”. Điều này đặc biệt phù hợp với công nghiệp văn hóa, bởi một sản phẩm thường đi qua nhiều lĩnh vực cùng lúc: Di sản, sở hữu trí tuệ, dữ liệu, công nghệ, đầu tư, thuế, thương mại và phân phối xuyên biên giới. Nếu các mắt xích không nối được với nhau, tài nguyên phong phú chỉ có thể để lưu giữ.

Trước hết là cơ chế đầu tư và huy động nguồn lực xã hội. Nghị quyết số 28/2026/QH16 quy định Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách Nhà nước, đồng thời khuyến khích nguồn lực xã hội và một số cơ chế đặc thù. Tuy nhiên, công nghiệp văn hóa cần nhiều hơn cấp phát ngân sách: Phải có đặt hàng theo đầu ra, đồng tài trợ, quỹ đầu tư, hợp tác công - tư và cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng để đơn vị sở hữu tài nguyên, người sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ và nhà đầu tư có thể cùng tham gia.

Đồ hoạ: Bảo Anh

Tiếp đó là bản quyền và quyền khai thác. Muốn một hiện vật, bộ ảnh hay kho tư liệu trở thành tài sản có thể sử dụng, phải xác định rõ ai sở hữu bản gốc, ai có quyền số hóa, ai được cấp phép và sản phẩm phái sinh được khai thác thế nào.

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang đặt tài sản trí tuệ cùng các chính sách về hệ sinh thái, nhân lực, hạ tầng, thị trường và đầu tư vào nhóm vấn đề trọng tâm. Tại thời điểm 24/8/2026, đây vẫn là dự án luật đang hoàn thiện, chưa phải luật đã được Quốc hội thông qua. Tinh thần thảo luận hiện nay là nối các khâu sáng tạo - bản quyền - đầu tư - sản xuất - phân phối thành một chuỗi thống nhất.

Bên cạnh đó, một bài toán mới cũng được đặt ra, đó là dữ liệu văn hóa. Số hóa không thể chỉ là quét tài liệu thành tệp; dữ liệu muốn tái sử dụng phải có nguồn gốc, mô tả chuẩn, tình trạng bản quyền, độ tin cậy và điều kiện khai thác. Khi được tổ chức tốt, dữ liệu có thể phục vụ bảo tàng, trường học, nhà làm phim và doanh nghiệp công nghệ. Nhưng càng kết nối để sáng tạo thì càng phải bảo đảm bản quyền, an ninh và chủ quyền văn hóa số. Nghị quyết 80 đặt đồng thời hai yêu cầu này: Đẩy mạnh số hóa, phát triển nội dung số và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hóa trên không gian số.

AI làm quản trị dữ liệu và quyền sở hữu trí tuệ trở nên quan trọng hơn. Công nghệ có thể hỗ trợ nhận dạng, dịch thuật, phục dựng và tìm kiếm, nhưng chỉ đáng tin khi dữ liệu đầu vào có nguồn rõ và đầu ra có cơ chế kiểm chứng. Thể chế vì vậy phải trả lời ai chịu trách nhiệm về tính xác thực, quyền tác giả, quyền sử dụng hình ảnh và dấu vết nguồn của nội dung do AI hỗ trợ tạo ra. Nếu làm tốt, AI khuếch đại giá trị văn hóa; nếu làm không tốt, AI có thể khuếch đại sai lệch.

Cuối cùng là thị trường và nhân lực. Nhà nước nắm giữ nhiều bảo tàng, thư viện, di sản và kho tư liệu quan trọng nhưng không cần tự làm mọi sản phẩm. Doanh nghiệp có lợi thế về công nghệ, thiết kế và phân phối; trường đại học có tri thức; nghệ sĩ có ngôn ngữ biểu đạt. Thể chế phải tạo được “cửa vào” cho hợp tác, đồng thời hình thành đội ngũ giao thoa giữa văn hóa và công nghệ như quản trị dữ liệu di sản, sản xuất nội dung, bản quyền, 3D/AI, thị trường và quản trị IP.

Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 80, Nghị quyết 28/2026/QH16 và quá trình xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cho thấy thể chế đang chuyển từ định hướng sang tổ chức chuỗi giá trị cụ thể hơn.

Khi văn hóa được nhìn như nguồn lực quốc gia, câu hỏi tiếp theo là những nguồn tài nguyên đặc thù đang nằm ở đâu với một quốc gia biển, văn hóa biển, đảo là phần không thể tách rời của bản sắc và lịch sử như Việt Nam?

Nghị quyết số 26/NQ-CP về phát triển bền vững kinh tế biển đặt yêu cầu xây dựng văn hóa biển, xã hội gắn bó với biển, phát huy di sản và giáo dục nhận thức về biển, đồng thời gắn các nhiệm vụ này với quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Vì vậy, công nghiệp văn hóa không chỉ là câu chuyện của đô thị sáng tạo hay ngành giải trí mà còn có không gian biển đảo và văn hóa bảo vệ chủ quyền.

Trong không gian ấy, Quân chủng Hải quân là một chủ thể đặc biệt. Hải quân lưu giữ lịch sử xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành, hiện vật, tư liệu, hình ảnh, tác phẩm văn học nghệ thuật, những câu chuyện về người chiến sĩ nơi đầu sóng, mối quan hệ quân - dân và dấu ấn đối ngoại quốc phòng. Nghị quyết 80 cũng yêu cầu văn hóa thấm sâu vào quốc phòng, an ninh, đối ngoại và phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. Những giá trị ấy, khi được phân loại và thẩm định phù hợp, không chỉ là tư liệu truyền thống nội bộ mà còn là một bộ phận của tài nguyên văn hóa quốc gia.

Từ đây đặt ra bài toán cho Hải quân trong kỷ nguyên số và AI: Giá trị nào có thể số hóa và công khai; tổ chức tư liệu ra sao để phục vụ giáo dục và sáng tạo; ai có thể tham gia chuyển hóa thành phim, sách, triển lãm, bảo tàng số hay nội dung đối ngoại; đâu là ranh giới giữa lan tỏa văn hóa với bảo vệ bí mật Nhà nước, an ninh quốc phòng và bản quyền. Đây không phải là “kinh doanh hóa” nhiệm vụ quân sự, mà là làm cho những giá trị đã được phép công khai tiếp tục sống trong xã hội.

Ảnh: Xuân Hoá, Đồ hoạ: Bảo Anh

Nếu bài toán của quốc gia là biến tài nguyên thành tài sản, sản phẩm và sức mạnh mềm, thì với Hải quân, hạt nhân là con người, lịch sử và văn hóa biển đảo. Khai thác nguồn lực đó như thế nào để phục vụ giáo dục, cộng đồng, đối ngoại và củng cố thế trận lòng dân là câu hỏi cần được trả lời từ chính thực tiễn văn hóa Hải quân.

Bài 2: Quân chủng Hải quân và hành trình kiến tạo sức mạnh mềm từ di sản biển đảo

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Bài 1:  Từ nguồn lực văn hoá đến sức mạnh quốc gia

Bài 1: Từ nguồn lực văn hoá đến sức mạnh quốc gia

(Thanh tra) - Trong kỷ nguyên số, văn hóa không chỉ là di sản cần gìn giữ mà còn là nguồn lực có thể tạo ra sản phẩm sáng tạo, thị trường, bản sắc và sức mạnh mềm. Muốn biến tiềm năng ấy thành giá trị, Việt Nam phải đồng thời đổi mới tư duy và tháo gỡ những điểm nghẽn thể chế trên toàn bộ chuỗi công nghiệp văn hóa.

Bảo Anh - Vưu Lều Tôn

10:31 28/08/2026
Từ cách làm việc đến văn hóa thanh tra ở Vụ Kế hoạch - Tài chính

Từ cách làm việc đến văn hóa thanh tra ở Vụ Kế hoạch - Tài chính

(Thanh tra) - Không bắt đầu từ những khẩu hiệu, Vụ Kế hoạch - Tài chính đang xây dựng văn hóa thanh tra bằng chính phương pháp tổ chức và thực hiện công việc: rõ trách nhiệm, chặt chẽ trong tham mưu, chủ động phối hợp, coi trọng chất lượng sản phẩm và hiệu quả cuối cùng.

Thái Hải

07:00 27/08/2026

Tin mới nhất

Xem thêm