Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

TKV quản trị nguồn nước vùng than: Từ kiểm soát ô nhiễm đến tuần hoàn tài nguyên

Trọng Tài

Thứ năm, 05/11/2026 - 10:58

(Thanh tra) - Quá trình khai thác than ngày càng xuống sâu kéo theo lưu lượng nước thải mỏ gia tăng mạnh mẽ cả về quy mô lẫn mức độ phức tạp địa chất.

Trạm xử lý nước thải mỏ của Công ty Môi trường - TKV. Ảnh: Công ty Môi trường - TKV

Kiên định quan điểm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã thiết lập mạng lưới xử lý nước thải tập trung hiện đại, từng bước chuyển hóa nguồn thải có nguy cơ ô nhiễm cao thành tài nguyên nước tuần hoàn phục vụ sản xuất bền vững.

Trong chiến lược phát triển dài hạn, TKV luôn xác định bảo vệ môi trường là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt và gắn chặt với từng khâu sản xuất kinh doanh. Cụ thể hóa Nghị quyết số 27-NQ/ĐU của Đảng ủy Tập đoàn về tăng cường lãnh đạo công tác bảo vệ môi trường đến năm 2025, định hướng tới năm 2030, việc quản trị nguồn nước thải mỏ đã được nâng tầm thành một trụ cột cốt lõi.

Thực tế hoạt động khai khoáng cho thấy, khi diện khai thác hầm lò và lộ thiên ngày càng mở rộng và xuống sâu, áp lực nước ngầm và nước mặt đổ về các moong khai thác, đường lò ngày một lớn. Nếu chỉ dừng lại ở các giải pháp xử lý cục bộ, ngành Than sẽ không thể giải quyết triệt để bài toán an toàn sinh thái cho toàn vùng mỏ.

Nhận diện rõ thách thức đó, TKV đã đầu tư xây dựng và hoàn thiện hệ thống quản lý nước thải mỏ quy mô lớn, vận hành theo mô hình chuyên trách tập trung.

Toàn Tập đoàn hiện duy trì hoạt động từ 45 đến 50 trạm xử lý nước thải mỏ hầm lò và lộ thiên với tổng công suất thiết kế trên 38.000 m³/giờ. Hệ thống này thu gom, xử lý trung bình từ 135 đến hơn 160 triệu m³ nước thải mỏ mỗi năm, bảo đảm toàn bộ lượng nước sau xử lý đều đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường trước khi xả ra nguồn tiếp nhận.

Lãnh đạo TKV khẳng định, để đưa bảo vệ môi trường trở thành trụ cột phát triển bền vững, giai đoạn 2025 - 2030, Tập đoàn dự kiến đầu tư hơn 5.000 tỷ đồng cho các dự án môi trường, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ tái sử dụng nước sản xuất đạt trên 98% vào năm 2030.

Đóng vai trò nòng cốt trong thực hiện định hướng chiến lược này là Công ty Môi trường - TKV, đơn vị chuyên ngành chịu trách nhiệm quản lý, vận hành mạng lưới các trạm xử lý nước thải mỏ tập trung tại các vùng than trọng điểm.

Ông Nguyễn Hòa, Giám đốc Công ty Môi trường - TKV cho biết, đơn vị đang trực tiếp quản lý, vận hành thường xuyên từ 39 đến 45 trạm xử lý nước thải mỏ tập trung tại 3 địa phương, bao gồm 36 trạm phủ kín các vùng Hòn Gai, Cẩm Phả, Uông Bí của tỉnh Quảng Ninh, cùng 2 trạm tại Thái Nguyên và 1 trạm tại Lạng Sơn.

Hệ thống xử lý nước thải mỏ tại Trạm xử lý nước thải Núi Nhện (giai đoạn 2) của Công ty Môi trường - TKV. Ảnh: TKV

Năng lực vận hành bền bỉ của hệ thống được minh chứng rõ nét qua khối lượng nước thải mỏ được xử lý hằng năm, khi năm 2023 đạt gần 142,8 triệu m³, năm 2024 đạt gần 146,9 triệu m³, năm 2025 đạt gần 138,4 triệu m³ và riêng 9 tháng đầu năm 2026 đã xử lý gần 93,9 triệu m³.

Sự hiện diện của một đơn vị chuyên trách đã tạo ra bước ngoặt trong tổ chức sản xuất tại các mỏ than. Tại Công ty Cổ phần Than Cao Sơn - TKV, ông Vũ Quang Dũng, Phó Giám đốc Công ty chia sẻ, toàn bộ nước thải phát sinh từ moong khai thác lộ thiên đều được đơn vị thu gom, bơm cưỡng bức về Trạm xử lý nước thải mỏ Tây Nam - Cao Sơn công suất 2.400 m³/giờ do Công ty Môi trường - TKV quản lý, vận hành để xử lý đạt quy chuẩn địa phương trước khi xả ra suối Đá Mài.

Song song với nước thải mỏ, Than Cao Sơn còn đầu tư 4 hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt hợp khối đặt tại các nhà ăn tập thể, gồm 3 trạm ngoài khai trường công suất 30 m³/ngày đêm và 1 trạm tại khu văn phòng công suất 50 m³/ngày đêm, bảo đảm kiểm soát triệt để mọi nguồn nước thải.

Tương tự, tại Công ty Than Hòn Gai - TKV, cơ chế phối hợp điều tiết lưu lượng giữa mỏ và đơn vị vận hành trạm luôn được duy trì chặt chẽ. Lãnh đạo Công ty đánh giá, việc có đơn vị chuyên trách quản lý hệ thống xử lý nước thải giúp doanh nghiệp khai thác tập trung tối đa nguồn lực cho sản xuất; đồng thời bảo đảm các yêu cầu môi trường được thực hiện bài bản ngay cả khi mỏ xuống sâu và lượng nước tăng đột biến vào mùa mưa.

Đặc thù của nước thải mỏ than là tính chất biến đổi phức tạp theo từng tầng địa chất và phương pháp khai thác. Do các hợp chất chứa lưu huỳnh trong vỉa than phản ứng với ôxy sau khi mở vỉa, nước thải mỏ thường có tính axít cao, độ pH thấp, chứa hàm lượng lớn bùn đất lơ lửng, sắt và mangan gây ăn mòn mạnh thiết bị. Để giải quyết bài toán này, TKV đã áp dụng dây chuyền công nghệ xử lý hóa - lý khép kín, vận hành liên tục qua 6 công đoạn chặt chẽ.

Hệ thống xử lý nước thải mỏ tại Công ty Than Hòn Gai, do Công ty Môi trường - TKV quản lý, vận hành. Ảnh: TKV

Chia sẻ về quy trình xử lý, ông Nguyễn Hòa cho biết, nước thải từ các đường lò và moong khai thác trước hết được bơm dẫn về bể điều hòa để lắng bớt cặn thô, ổn định lưu lượng và phòng ngừa sự cố môi trường. Từ đây, nước được đưa sang ngăn phản ứng trung hòa có sục khí và châm dung dịch sữa vôi tự động theo máy đo độ pH nhằm khử tính axít, đồng thời tạo điều kiện kết tủa phần lớn sắt và mangan.

Tiếp đó, dòng nước đi qua ngăn phản ứng keo tụ, được pha trộn các hoạt chất trợ lắng để liên kết những hạt cặn nhỏ li ti thành các bông cặn lớn rồi dẫn sang bể lắng tấm nghiêng. Khi va chạm vào hệ thống tấm nghiêng, toàn bộ bông cặn sẽ trượt xuống đáy bể, còn phần nước trong phía trên tự chảy sang bể lọc cát mangan để giữ lại triệt để lượng kim loại nặng còn tồn dư trước khi ra bể chứa nước sạch.

Một bước tiến quan trọng giúp hoàn thiện quy trình xử lý nước thải của TKV là công nghệ ép bùn cơ giới hóa và giám sát tự động. Thay vì dùng sân phơi bùn hay bể lọc bùn truyền thống tốn nhiều diện tích và phụ thuộc vào thời tiết, các trạm xử lý hiện nay đã được đầu tư hệ thống bể cô đặc kết hợp máy ép bùn ly tâm, máy ép trục vít hoặc khung bản công suất lớn.

Lượng bùn lắng dưới đáy bể được gom về máy ép tốc độ cao để tách nước quay vòng lại bể điều hòa, trong khi bùn khô sau ép giảm mạnh thể tích và độ ẩm, rất thuận lợi để băng tải chuyển ra nhà chứa và đưa đi đổ thải như chất thải thông thường. Theo ông Nguyễn Hòa, giải pháp này giúp giảm tải cho các hồ chứa, ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm thứ cấp, tiết kiệm quỹ đất và khép kín trọn vẹn chu trình từ thu gom, xử lý nước đến quản lý chất thải phát sinh.

Gắn với lộ trình chuyển đổi số của TKV, việc vận hành các trạm xử lý nước thải đã chuyển dịch mạnh mẽ từ thao tác thủ công sang điều khiển tự động theo dữ liệu thời gian thực. Tại Trạm xử lý nước thải mỏ Núi Nhện (giai đoạn 2) ở Cẩm Phả hay Trạm -97,5 Mông Dương công suất 1.200 m³/giờ, phòng điều khiển trung tâm được trang bị hệ thống giám sát SCADA hiển thị liên tục các thông số về lưu lượng, độ pH, độ đục, chất rắn lơ lửng và tình trạng thiết bị. Trước khi xả ra môi trường theo quy chuẩn mới nhất, toàn bộ nước sạch đều đi qua hệ thống quan trắc tự động để đo đếm và truyền dữ liệu trực tiếp tới cơ quan quản lý.

Không chỉ duy tu, bảo dưỡng định kỳ thiết bị cơ điện làm việc trong môi trường ăn mòn cao, TKV và Công ty Môi trường - TKV còn liên tục đầu tư nâng công suất các trạm xử lý tại những khu vực có sản lượng khai thác lớn. Trong hai năm 2025 - 2026, hàng loạt dự án trọng điểm đã hoàn thành và đi vào vận hành.

Trạm xử lý nước thải mỏ của Công ty Môi trường - TKV. Ảnh: Công ty Môi trường - TKV

Điển hình là Dự án nâng công suất Trạm xử lý nước thải +25 Thành Công phục vụ khai trường hầm lò của Công ty Than Hòn Gai - TKV với tổng mức đầu tư gần 51 tỷ đồng, công suất 600 m³/giờ (tương đương 14.400 m³/ngày đêm), hoàn thành vào cuối tháng 5/2026.

Cùng với đó là Dự án nâng công suất Trạm xử lý nước thải Cọc Sáu có tổng mức đầu tư gần 129 tỷ đồng, nâng công suất thiết kế lên 2.400 m³/giờ (tương đương 57.600 m³/ngày đêm) phục vụ khai trường lộ thiên của Công ty Cổ phần Than Đèo Nai - Cọc Sáu, hoàn thành toàn bộ vào cuối tháng 9/2026.

Hướng đi chiến lược đang được TKV thúc đẩy mạnh mẽ hiện nay là chuyển từ tư duy xử lý nước thải để xả thải sang tái sử dụng như một nguồn tài nguyên tuần hoàn. Tại Công ty Cổ phần Than Cao Sơn - TKV, nguồn nước sau xử lý cũng được tận dụng tối đa cho vệ sinh công nghiệp và vệ sinh môi trường trên toàn mặt bằng sản xuất.

Tương tự, tại Công ty Tuyển than Cửa Ông, ngay từ những năm 2000, đơn vị đã đầu tư hệ thống thu hồi nước thải thay cho việc xả thẳng ra vịnh, vừa bảo vệ môi trường biển vừa thu hồi lại nguồn than từ bùn thải. Tại các mỏ khai thác, nước sau xử lý đạt chuẩn đang được quay vòng phục vụ sàng tuyển than, phun sương dập bụi, tưới rửa đường, chăm sóc cây xanh và một phần được xử lý nâng cao để phục vụ tắm giặt cho công nhân.

Biến những dòng nước thải mỏ đục ngầu, nhiễm axít từ sâu trong lòng đất thành nguồn nước đảm bảo phục vụ ngược lại cho sản xuất và đời sống chính là minh chứng thuyết phục nhất cho tư duy kinh tế tuần hoàn của TKV.

Khi mỗi mét khối nước thải đều được kiểm soát chặt chẽ bằng công nghệ hiện đại và trả lại giá trị sử dụng mới, ngành Than không chỉ giải quyết tận gốc bài toán ô nhiễm nguồn nước mà còn kiến tạo nên nền tảng phát triển xanh, hài hòa và bền vững cùng cộng đồng.

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

TKV: Hiện đại hóa hạ tầng môi trường - Lời giải bài toán tăng trưởng xanh

TKV: Hiện đại hóa hạ tầng môi trường - Lời giải bài toán tăng trưởng xanh

(Thanh tra) - Gánh vác trọng trách bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia với sản lượng khai thác và tiêu thụ hàng chục triệu tấn than mỗi năm, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) phải đối mặt với áp lực phát sinh bụi, khí thải và chất thải rắn công nghiệp rất lớn.

Trọng Tài

15:53 03/11/2026

Tin mới nhất

Xem thêm