Theo dõi Báo Thanh tra trên
Thứ ba, 23/12/2014 - 09:20
(Thanh tra)- Luật Khoáng sản 2010 ra đời và có hiệu lực từ tháng 7/2011, sau hơn 3 năm đã ban hành được 23 văn bản hướng dẫn thi hành. Theo đánh giá của các chuyên gia khoáng sản, điểm cốt lõi mang tính đột phá của Luật Khoáng sản 2010 chính là công khai, minh bạch ở tất cả các khâu trong quy trình hoạt động khai thác khoáng sản.
Lĩnh vực khai khoáng tài nguyên mỏ ngày càng được siết chặt. Ảnh: Quý - Tuyền
Cụ thể, minh bạch thông tin từ khâu quy hoạch khoáng sản trên các website của cơ quan có thẩm quyền để người dân và doanh nghiệp xem và giám sát. Ví dụ: Công khai khu vực không đấu giá khoáng sản, công khai các khu vực có khoáng sản phân tán nhỏ lẻ; diễn biến xử lý các hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thăm dò hoặc giấy phép khai thác khoáng sản của tổ chức, cá nhân ...
Cục Kiểm soát hoạt động khoáng sản miền Bắc đã đưa ra nhận định: Thực thi Luật Khoáng sản 2010 thực tế đã có nhiều chuyển biến tích cực so với những năm trước đó. Khâu giám sát sản lượng khai thác của các doanh nghiệp (DN), nếu trước đây không thực hiện được hoặc không xử lý được các DN khai báo sai là do trong các văn bản pháp luật về quản lý khoáng sản trước đây không có quy định và chế tài xử lý vi phạm trên.
Điều 63 Luật Khoáng sản 2010 quy định: Cơ quan quản lý có thể giám sát được bằng kỹ thuật và chế tài; yêu cầu DN khai thác phải kiểm kê, báo cáo với cơ quan có thẩm quyền số lượng khoáng sản đã khai thác trong từng năm.
Nghị định 142/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản cũng quy định chi tiết chế tài xử phạt các hành vi vi phạm trong khai báo sản lượng của DN.
Nhiều năm trước, khi Luật Khoáng sản chưa có hiệu lực, quản lý tài nguyên khoáng sản đã nảy sinh nhiều hệ lụy về kinh tế, xã hội. Không ít DN giàu lên nhờ khai thác khoáng sản trong khi nguồn thu từ khai thác khoáng sản vào ngân sách Nhà nước rất ít ỏi. Tại nhiều cuộc họp về quản lý khoáng sản, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đã không ít lần đưa ra những hạn chế của lĩnh vực này mà nổi cộm nhất là vấn đề cấp phép khai thác khoáng sản quá dễ dãi, như “cho không” mỏ cho các DN.
Vì dễ dãi nên đã bùng phát việc ra đời và cấp phép hoạt động cho các DN. Cao điểm nhất phải kể đến trong thời kì 2009 - 2011, các địa phương cấp gần 3.500 giấy phép (gấp 7 lần số Trung ương cấp trong 12 năm). 70% trong tổng số giấy phép khoáng sản do địa phương cấp có thời hạn khai thác dưới 5 năm. Điều này đã dẫn tới tâm lý nhiều DN đầu tư theo kiểu ngắn hạn để thu hồi nhanh vốn đầu tư mà không quan tâm đến thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường. Không sử dụng hợp lý, tiết kiệm khoáng sản khi khai thác, cũng như chưa quan tâm đến trách nhiệm hỗ trợ địa phương và người dân nơi có khoáng sản khai thác.
Lĩnh vực khai thác khoáng sản màu mỡ đến mức số DN chuyển hướng sang khai thác và chế biến khoáng sản tăng chóng mặt theo từng năm. Theo thống kê, năm 2000 chỉ có hơn 427 DN, thì đến năm 2012 con số này đã lên đến gần 2.000 DN. Việc dễ dãi trong cấp giấy phép kéo theo đó là hàng loạt điều kiện quy định trong khai thác khoáng sản bị các DN khai khoáng “dễ dàng” lách qua.
Theo nghiên cứu, đánh giá về quản lý và sử dụng tài nguyên khoáng sản tại nước ta từ năm 2012 trở về trước, TS Nguyễn Thành Sơn, Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam nhận định, hàng năm ngân sách thất thu hàng nghìn tỷ đồng từ thuế, phí trong khai thác khoáng sản. Bởi thực tế, việc thu thuế, phí tài nguyên vẫn chỉ dựa trên sản lượng khoáng sản đã được khai thác do DN tự khai báo. Trong khi sự tự giác, chân thật trong khai báo của DN tại Việt Nam vốn được đánh giá là rất kém.
Theo đánh giá của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, sau khi Luật Khoáng sản 2010 ra đời và có hiệu lực đã từng bước hạn chế được những bất cập tồn tại nêu trên, hiệu quả quản lý khoáng sản đã được cải thiện rõ rệt.
Quý - Tuyền
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Ngày 9/7/2026, tại TPHCM, Bộ Tài chính tổ chức hội nghị lấy ý kiến hoàn thiện dự án Luật Ngân sách Nhà nước (NSNN) hợp nhất với Luật Đầu tư công.
B.S
(Thanh tra) - Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) định hướng đổi mới phương thức quản lý theo chuỗi cung ứng, tăng cường thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm và hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khỏe Nhân dân.
Thanh Lương
Bảo Anh
T.H
Thư Kỳ
Phương Hiếu
Trung Hà
Quốc Huỳnh
Trần Kiên
Thu Huyền
Thành Công
B.S
Thiên Tâm
Hương Giang
Thành Công
Trọng Tài
Văn Thanh