Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

Phát triển kinh tế biển, hải đảo gắn với bảo đảm chủ quyền và an ninh quốc phòng

Minh Nguyệt

Thứ ba, 05/05/2026 - 21:52

(Thanh tra) - Ngày 5/5, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú đã chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định hồ sơ chính sách của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).

Ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Môi trường - cơ quan chủ trì soạn thảo cho biết, phạm vi của chính sách sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo bao gồm các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên, không gian biển; phòng ngừa, kiểm soát, khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường biển và hải đảo; cơ chế, chính sách ưu đãi, đặc thù thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh tế biển và vấn đề khác có liên quan đến quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) được xây dựng trên 4 chính sách lớn, gồm:

Chính sách 1: Hoàn thiện quy định về quản lý, sử dụng không gian biển, bảo đảm phân định rõ trách nhiệm trong quản lý, thực thi, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển.

Trong đó, bổ sung nội dung quản lý Nhà nước về quản lý, sử dụng không gian biển; nguyên tắc quản lý, sử dụng không gian biển, sử dụng khu vực biển; phân định ranh giới, trách nhiệm quản lý hành chính trên biển; việc lập và quản lý hồ sơ hải chính; thiết lập cơ chế xử lý xung đột, chồng lấn, mâu thuẫn trong sử dụng không gian biển.

Mặt khác, bổ sung nội dung về giao, cho thuê khu vực biển; điều chỉnh hoạt động xây dựng, quản lý, xử lý, tháo dỡ đảo nhân tạo, công trình trên biển; xác định và quản lý khoảng lùi xây dựng trong vùng bờ.

Ông Nguyễn Thanh Tùng (ảnh đứng), Phó Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình bày dự thảo tờ trình. Ảnh: Minh Nguyệt

Chính sách 2: Hoàn thiện quy định về các quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng khu vực biển.

Cụ thể, bổ sung, hoàn thiện các quyền của tổ chức, cá nhân được giao, cho thuê khu vực biển: Chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển, tài sản gắn liền với khu vực biển,...; thiết lập chế định cho phép chuyển mục đích sử dụng khu vực biển.

Bổ sung nội dung về các trường hợp được chuyển mục đích, chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển, tài sản gắn liền với khu vực biển. Cùng với đó, bổ sung, hoàn thiện các nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được giao, cho thuê khu vực biển; chính sách tài chính trong sử dụng khu vực biển.

Chính sách 3: Hoàn thiện quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo.

Chính sách này rà soát, bãi bỏ các quy định hiện hành về ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc hại trong Luật không còn phù hợp; sửa đổi, bổ sung nội dung về kiểm soát ô nhiễm từ đất liền ra biển, kiểm soát ô nhiễm đối với các hoạt động trên biển, gắn quản lý xả thải với quy hoạch không gian biển, hệ sinh thái biển, lưu vực sông ven biển, sức chịu tải của môi trường; việc khoanh định khu vực cấm, hạn chế xả thải.

Đồng thời, bổ sung nội dung về: Kiểm soát rác thải biển; biện pháp ngăn chặn, kiểm soát xói lở bờ biển, bảo vệ địa hình tự nhiên; kiểm soát sinh vật ngoại lai qua nước dằn tàu, phòng ngừa rủi ro xâm hại hệ sinh thái biển.

Toàn cảnh cuộc họp Hội đồng thẩm định. Ảnh: Minh Nguyệt

Chính sách 4: Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, vượt trội để thúc đẩy phát triển mạnh mẽ các hoạt động kinh tế trên biển.

Nội dung chính sách bổ sung nguyên tắc, định hướng phát triển làm cơ sở pháp lý cho phát triển các hoạt động kinh tế trên biển theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải, tạo nhiều việc làm và sinh kế bền vững.

Bổ sung các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù, vượt trội, đảm bảo cơ chế tập trung, phối hợp liên ngành trong quá trình đầu tư; bổ sung các cơ chế, chính sách để huy động nguồn lực tổng hợp phục vụ cho phát triển bền vững kinh tế biển.

Góp ý tại cuộc họp thẩm định, các thành viên hội đồng đánh giá cao sự cần thiết ban hành và cơ bản nhất trí với dự thảo Chính sách của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Đồng thời, đề nghị làm rõ một số nội dung về nội luật hóa các điều ước quốc tế; chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển, tài sản gắn liền với khu vực biển; ứng phó sự cố môi trường…

Liên quan đến Chính sách 1 về phân định ranh giới, trách nhiệm quản lý hành chính trên biển, đại diện Bộ Nội vụ đề nghị rà soát lại để phù hợp với thẩm quyền của Quốc hội quy định các nội dung liên quan đến Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, bảo đảm không chồng chéo với luật chuyên ngành liên quan (Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

Các đại biểu góp ý tại cuộc họp Hội đồng thẩm định. Ảnh: Minh Nguyệt

Đối với Chính sách 2 về giao, cho thuê khu vực biển, đại diện Bộ Ngoại giao đề nghị cần cân nhắc kỹ. Chẳng hạn, cùng 1 khu vực có thể giao cho 2 cơ quan khác nhau: Ở bên trên nuôi cá, dưới đáy biển khai thác khoáng sản. Đồng thời, làm rõ điều kiện chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển, tài sản gắn liền với khu vực biển.

Đại diện Bộ Công an đề nghị quá trình xây dựng dự thảo Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Bộ Nông nghiệp và Môi trường rà soát đảm bảo phù hợp với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan, các điều ước quốc tế, gắn công tác quản lý tài nguyên môi trường biển và phát triển kinh tế với nhiệm vụ bảo vệ quốc phòng an ninh.

Đối với Chính sách 2, đại diện Bộ Công an đề nghị nghiên cứu, cân nhắc và làm rõ sự cần thiết của việc ban hành chính sách, nhất là nội dung bổ sung quy định về chuyển nhượng cho thuê góp vốn quyền sử dụng biển, tài sản gắn liền với khu vực biển.

Kết luận cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo hoàn thiện phạm vi điều chỉnh của dự án Luật cũng như chính sách cho rõ. Trong đó, Chính sách 1 phải thể hiện rõ được quản lý tổng hợp liên ngành liên vùng; Chính sách 2, 3, 4 phải gắn với việc khai thác bền vững tài nguyên môi trường biển, hải đảo, gắn với bảo vệ môi trường; kết hợp phát triển kinh tế biển, hải đảo gắn với đảm bảo chủ quyền và an ninh quốc phòng.

Đồng thời, bảo đảm phù hợp với chủ trương đường lối của Đảng. Đặc biệt là Kết luận số 18 của Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV và các yêu cầu liên quan đến phân quyền, cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh, thủ tục hành chính.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú kết luận cuộc họp. Ảnh: Minh Nguyệt

Về chính sách ưu đãi, hỗ trợ đặc thù (Chính sách 4), Thứ trưởng đánh giá đây là nội dung có tính đột phá trong thúc đẩy phát triển kinh tế biển và hải đảo. Tuy nhiên, việc thiết kế chính sách ưu đãi, đặc biệt về thuế và ngân sách, phải bảo đảm không vượt khung pháp luật hiện hành. Trường hợp đề xuất cơ chế đặc thù vượt thẩm quyền, cần báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét theo đúng tinh thần của Kết luận số 18.

Nhấn mạnh 4 chính sách phải xử lý được toàn diện các khó khăn vướng mắc, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo hoàn thiện hồ sơ, nhất là báo cáo đánh giá tác động, bản thuyết minh quy phạm pháp luật chính sách.

Đáng chú ý, dự thảo cần bảo đảm đồng bộ với các luật có liên quan; bảo đảm tuân thủ các cam kết quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982; làm rõ hơn nội dung liên quan đến an ninh quốc phòng và chủ quyền quốc gia.

Trên cơ sở ý kiến của Hội đồng thẩm định, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo hoàn thiện hồ sơ của chính sách của dự án luật, tập trung vào 5 vấn đề: Hoàn thiện phạm vi điều chỉnh cho rõ và chính xác đầy đủ; bảo đảm phù hợp với chủ trương đường lối Đảng; đảm bảo tính thống nhất; các chính sách phải xử lý được toàn diện các khó khăn vướng mắc; hoàn thiện hồ sơ đầy đủ, toàn diện và đồng bộ.

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Xây dựng dữ liệu lớn pháp luật quốc gia: Nền tảng phát triển AI tư pháp

Xây dựng dữ liệu lớn pháp luật quốc gia: Nền tảng phát triển AI tư pháp

(Thanh tra) - Xây dựng cơ sở dữ liệu lớn và ứng dụng AI trong lĩnh vực pháp luật được đánh giá là yêu cầu cấp thiết nhằm số hóa toàn bộ quy trình xây dựng văn bản, nâng cao chất lượng thi hành pháp luật, giảm mâu thuẫn, chồng chéo và hình thành hệ sinh thái dữ liệu pháp lý hiện đại, dùng chung.

Minh Nguyệt

19:30 13/05/2026
Quản lý an toàn thực phẩm: Thống nhất một đầu mối từ Trung ương đến địa phương

Quản lý an toàn thực phẩm: Thống nhất một đầu mối từ Trung ương đến địa phương

(Thanh tra) - Sau 15 năm thực hiện, Luật An toàn Thực phẩm năm 2010 đã bộc lộ những bất cập, chồng chéo trong công tác quản lý giữa các ngành. Dự thảo chính sách của Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đề xuất thiết lập một cơ quan đầu mối thống nhất từ trung ương đến địa phương nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý.

Minh Nguyệt

16:36 13/05/2026

Tin mới nhất

Xem thêm