Theo dõi Báo Thanh tra trên
Thứ bảy, 28/12/2013 - 09:09
(Thanh tra) - Khi UBND TP. Hồ Chí Minh có Quyết định số 4224/QĐ-UBND, ngày 09 tháng 9 năm 2011 “về giao đất tại xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn cho Ban quản lý đầu tư xây dựng công trình huyện Hóc Môn để xây dựng Trường PTTH Nguyễn Hữu Cần” thì nhiều hộ dân đã có đơn khiếu nại gửi tới các cơ quan ngôn luận, yêu cầu được giải quyết việc đền bù hoặc hoán đổi đất khác.
Trong số các trường hợp khiếu nại có gia đình bà Nguyễn Thị Út thường trú tại số 7/4 ấp Mỹ Huề, xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh. Trong diện tích đất được UBND TP. Hồ Chí Minh giao cho Ban quản lý đầu tư xây dựng công trình huyện Hóc Môn để xây dựng Trường PTTH Nguyễn Hữu Cần, có 1.000m2 đất thuộc quyền sở hữu và đứng tên chủ sử dụng trong sổ địa bộ của bà Nguyễn Thị Út và chồng là Nguyễn Văn Phải (chết năm 2007) từ năm 1958.
Trước năm 1975, chính quyền Ngụy đã cưỡng ép lấy phần đất này làm vành đai khu tứ giác quân trường Quang Trung. Do là vành đai nên chỉ được rào dây thép gai bảo vệ mà không có bất kỳ công trình xây dựng nào trên đất. Ngay sau ngày 30/4/1975, vợ chồng bà Út đã trở về phần đất của mình, dỡ dây thép gai, dọn dẹp đất để canh tác. Năm 1978, thực hiện chủ trương của Nhà nước, vợ chồng bà Út đã góp phần đất này vào Tập đoàn sản xuất nông nghiệp. Năm 1983, Tập đoàn sản xuất nông nghiệp bị giải thể do hoạt động không có hiệu quả. Ngay sau khi Tập đoàn bị giải thể, vợ chồng bà Út đã nhiều lần làm đơn gửi các cấp chính quyền, xin lại phần đất thuộc sở hữu của mình đã góp vào Tập đoàn, nhưng không được giải quyết. Từ đó đến nay, vợ chồng bà Út (và những hộ dân có đất liền kề với phần đất của gia đình bà Út) liên tục có đơn khiếu nại gửi các cấp chính quyền để xin lại đất hoặc được nhận đền bù theo pháp luật.
Ngày 23/12/2010, UBND huyện Hóc Môn có Công văn số 1978/UBND “V/v trả lời đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Út, xã Trung Chánh” khẳng định: “Trường hợp khiếu nại của bà Nguyễn Thị Út không có cơ sở xem xét giải quyết”. Bà Út nhiều lần làm đơn khiếu nại gửi UBND huyện Hóc Môn và các cơ quan chính quyền TP. Hồ Chí Minh về các sai phạm trong quá trình giải quyết như sai phạm về hình thức văn bản (theo pháp luật, thì khi giải quyết khiếu nại, cơ quan có thẩm quyền phải ra “Quyết định” chứ không phải ra công văn; sự không đúng đắn về nội dung của văn bản trả lời khiếu nại.
Việc UBND huyện Hóc Môn cho rằng: “Khu vực sân bóng Trung Mỹ Tây là khu vực vành đai an ninh của Quân trường Quang Trung được chính quyền tiếp quản từ tay của chế độ cũ”; “Xác định việc sử dụng phần đất trước kia do chính quyền chế độ cũ thuê mướn sử dụng vào việc xây dựng công trình phúc lợi thì không bồi hoàn”; “Căn cứ Khoản 6, Điều 1 và Khoản 1 Điều 4 của Quyết định số 111/CP ngày 14/4/1977 của Hội đồng Chính phủ thì đất này thuộc diện cho chế độ cũ thuê mướn nên nay thuộc quyền quản lý của Nhà nước”… và dùng làm căn cứ để phán quyết “khiếu nại của gia đình bà Út không có cơ sở giải quyết” là hoàn toàn không đúng với thực tế, vì những lý do sau đây:
Trước hết, đất này không phải do “chính quyền tiếp quản từ tay chế độ cũ”. Trên thực tế, ngay sau giải phóng, vợ chồng bà Út đã trở về phần đất của mình, mà trước đó đã bị chế độ cũ cưỡng bức lấy để làm vành đai Quân trường, hoàn toàn không phải do chính quyền Cách mạng tiếp quản và giao lại cho gia đình bà Út; cũng không phải như UBND xác định “đất này thuộc diện cho chế độ cũ thuê mướn” vì trên thực tế chính quyền cũ đã tự ý cưỡng đoạt của gia đình bà Út mà không có hợp đồng thuê mướn đối với gia đình bà Út.
Hơn nữa, ngay sau 30/4/1975, vợ chồng bà Út đã trở về dọn dẹp, cất nhà ở và canh tác trên đất của mình, trước khi Nhà nước ban hành Quyết định số 111/CP (14/4/1977) của Chính phủ, nên UBND huyện Hóc Môn không thể cho là “do Nhà nước quản lý” mà áp dụng Quyết định này đối với trường hợp của vợ chồng bà Út là không đúng đối tượng (không phải đất cho thuê).
Về vấn đề trả đất cho người đã góp vào Tập đoàn, Hợp tác xã khi Tập đoàn, Hợp tác xã giải thể, UBND TP. Hồ Chí Minh có quy định tại Công văn số 1674/CV-UB-QLĐT, ngày 05/05/1998 “V/v triển khai thực hiện Chỉ thị số 10/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp”. Quan điểm cấp GCNQSDĐ cho những đối tượng như trường hợp gia đình bà Út cũng còn thể hiện trong Chỉ thị số 18/CT-UB-KT, ngày 04/5/1995 của UBND TP. Hồ Chí Minh “V/v xét duyệt khi cấp GCNQSDĐ cho nông dân”. Nếu căn cứ pháp luật và xét tình hình sử dụng đất trên thực tế thì UBND huyện Hóc Môn phải trả lại đất và cấp GCNQSDĐ cho gia đình bà Út thì mới là cách giải quyết đúng đắn.
Sau khi nhận được Công văn nói trên, bà Út đã nhiều lần liên tục làm đơn gửi UBND TP. Hồ Chí Minh để khiếu nại đối với Công văn giải quyết khiếu nại lần đầu của UBND huyện Hóc Môn. Sau đó, bà Út nhận được Công văn số 616/UBND “V/v phúc đáp PC số 400/PC-TT ngày 28/4/2011 của Thanh tra Sở TNMT”, ngày 09/5/2011 của UBND huyện Hóc Môn. Trong đó, một lần nữa khẳng định quan điểm của UBND huyện Hóc Môn như tại Công văn 1978.
Bà Út vẫn tiếp tục gửi đơn khiếu nại tới UBND TP. Hồ Chí Minh nhưng đến nay vẫn chưa có quyết định giải quyết khiếu nại lần tiếp theo của UBND TP. Mặc dù vậy, nhưng UBND TP. Hồ Chí Minh lại ban hành Quyết định số 4224/QĐ-UBND, ngày 09/9/2011 để xây dựng Trường PTTH Nguyễn Hữu Cần. Bằng Quyết định này, quyền sử dụng của bà Út đối với 1.000m2 đất mà vợ chồng bà Út có quyền sở hữu từ trước Giải phóng và đã trực tiếp quản lý, sử dụng ngay sau Giải phóng cho tới khi góp đất vào Tập đoàn, đã không được xem xét giải quyết.
Thiết nghĩ, nếu căn cứ các quy định pháp luật thì đề nghị của bà Út về việc được công nhận QSD của vợ chồng bà Út đối với diện tích 1.000m2 đất, theo sổ địa bộ của chế độ cũ trước năm 1975 là Thửa đất số 429-426-25, Tờ số 3 thuộc xã Trung Mỹ Tây, hiện nay thuộc xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn và được nhận đền bù khi UBND TP. Hồ Chí Minh quyết định thu hồi để xây dựng trường học, là đúng pháp luật và thỏa đáng.
Nhóm PV
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Lãng phí không chỉ là sự thất thoát được thể hiện qua những con số, mà còn là sự “tê liệt” của nguồn lực và sự xói mòn lòng tin của Nhân dân. Tại Thanh Hóa, trong 97 dự án đầu tư công tồn đọng kéo dài, có 2 dự án đường giao thông từ cầu Nỏ Hẻn đến đường tỉnh 514 và đoạn từ đường tỉnh 514 đến Cảng hàng không Thọ Xuân đang nằm trong “vòng xoáy” chậm trễ, gây lãng phí, trở thành những lực cản trên hành trình phát triển của địa phương.
Văn Thanh
(Thanh tra) - Tại 2 dự án giao thông kết nối TP Thanh Hóa (cũ) với Cảng hàng không Thọ Xuân, khi cơ chế dần được tháo gỡ, nguồn lực đang được tính toán lại, vấn đề cốt lõi không còn là “vì sao chậm”, mà là “ai chịu trách nhiệm và làm thế nào để chấm dứt lãng phí?”. Đây không chỉ là bài toán hạ tầng, mà còn là phép thử đối với hiệu lực quản lý và quyết tâm chống lãng phí trong đầu tư công.
Văn Thanh
Văn Thanh
Văn Thanh
Thái Minh
Thuỳ Anh
Lan Anh
Dương Hồng Thành
Cảnh Nhật
Anh Khoa - ĐQ
Trung Hà
Trần Kiên
Thanh Lương
Thanh Nhung
Trung Hà
B.S
Trần Kiên