Theo dõi Báo Thanh tra trên
Minh Nghĩa
Chủ nhật, 17/05/2026 - 12:00
(Thanh tra) - Quảng Ngãi đang định hướng đưa dữ liệu, IoT và điện toán đám mây vào các hợp tác xã, vùng sản xuất nông nghiệp và dược liệu hàng hóa phục vụ xuất khẩu. Từ hạ tầng kết nối đến quản trị vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và logistics số, chuyển đổi số được kỳ vọng sẽ mở thêm dư địa tăng trưởng cho kinh tế nông thôn. Khi 5G bắt đầu đi vào vùng sản xuất.
Quảng Ngãi đang định hướng đưa hạ tầng số vào các vùng sản xuất nông nghiệp, dược liệu hàng hóa phục vụ xuất khẩu. Trong ảnh là vùng trồng nông nghiệp ở Măng Đen. Ảnh: Minh Nghĩa
Trong Kế hoạch Phát triển hạ tầng số giai đoạn 2026 - 2030, một chi tiết đáng chú ý là Quảng Ngãi không chỉ đặt mục tiêu phát triển 5G, IoT hay dữ liệu số theo hướng phục vụ đô thị và công nghiệp, mà còn nhấn mạnh yêu cầu hỗ trợ chuyển đổi số cho các hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp gắn với vùng sản xuất nông nghiệp, dược liệu hàng hóa phục vụ xuất khẩu.
Điều này cho thấy một sự dịch chuyển đáng chú ý trong tư duy phát triển hạ tầng số. Nếu trước đây viễn thông chủ yếu phục vụ liên lạc, hành chính và nhu cầu tiêu dùng, thì nay hạ tầng số đang được nhìn nhận như một phần của hạ tầng sản xuất.
5G không còn chỉ là “Internet nhanh hơn”, mà được kỳ vọng trở thành nền tảng cho quản trị vùng trồng, điều hành logistics, giám sát môi trường, quản lý dữ liệu sản xuất và kết nối chuỗi cung ứng theo thời gian thực.
Từ đây, khái niệm “kinh tế số” cũng không còn bó hẹp trong thương mại điện tử hay dịch vụ đô thị. Một vùng sản xuất nông nghiệp, một hợp tác xã hay một khu trồng dược liệu nếu được kết nối dữ liệu, ứng dụng IoT và quản trị số cũng có thể trở thành mắt xích của nền kinh tế số.
Những con số mà Quảng Ngãi đặt ra cho thấy quy mô tham vọng khá lớn. Đến năm 2027, 5G dự kiến phủ sóng tối thiểu 85% dân số; trên 80% dân số trưởng thành có smartphone; ít nhất một số mô hình IoT được triển khai trong nông nghiệp, môi trường, cấp nước nông thôn. Đến năm 2030, 5G phủ sóng 99% dân số, tối thiểu 4 lĩnh vực ứng dụng IoT có kết nối, thu thập và chia sẻ dữ liệu.
Tuy nhiên, vùng phủ sóng rộng mới chỉ là “điều kiện cần”. Điều quan trọng hơn là hạ tầng đó có thực sự đi vào vùng sản xuất, giúp hợp tác xã, doanh nghiệp và người dân tạo ra giá trị mới hay không.

Trồng dâu công nghệ cao ở Măng Đen, IoT và dữ liệu thời gian thực có thể giúp quản trị vùng trồng, kiểm soát chất lượng và tối ưu sản xuất nông nghiệp. Ảnh: Minh Nghĩa
Dữ liệu, IoT và cloud: “Hạ tầng ẩn” của nông nghiệp xuất khẩu
Trong chuyển đổi số nông nghiệp, 5G chỉ là lớp hạ tầng kết nối bên ngoài. Giá trị sâu hơn nằm ở dữ liệu.
Kế hoạch của Quảng Ngãi đặt mục tiêu phát triển trung tâm dữ liệu, kho dữ liệu dùng chung, dữ liệu mở, điện toán đám mây theo mô hình hybrid cloud, đồng thời từng bước ứng dụng Big Data và AI phục vụ điều hành và phát triển dịch vụ số.
Nếu nhìn từ góc độ nông nghiệp xuất khẩu, đây là “hạ tầng ẩn” nhưng có ý nghĩa quyết định.
Một vùng trồng hiện đại không chỉ cần đất và nước, mà còn cần dữ liệu về độ ẩm, thời tiết, dinh dưỡng, dịch bệnh, nhật ký canh tác, truy xuất nguồn gốc và logistics sau thu hoạch. Khi cảm biến IoT được đưa vào sản xuất, dữ liệu từ vùng trồng có thể kết nối về kho dữ liệu dùng chung, hỗ trợ doanh nghiệp và cơ quan quản lý theo dõi chất lượng, cảnh báo sớm rủi ro và tối ưu quy trình sản xuất.
Đối với dược liệu xuất khẩu, công nghệ số còn trở nên quan trọng hơn. Bởi giá trị của dược liệu không chỉ nằm ở sản lượng, mà ở tính chuẩn hóa và khả năng chứng minh chất lượng. Một vùng dược liệu muốn tham gia chuỗi xuất khẩu cần có mã vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, hồ sơ điện tử, dữ liệu quy trình sản xuất và cơ chế xác thực chất lượng minh bạch.
Ở góc độ này, hạ tầng số có thể giúp giảm khoảng cách giữa vùng sản xuất miền núi với thị trường lớn. Một hợp tác xã tại vùng cao nếu có dữ liệu sản xuất rõ ràng, truy xuất minh bạch và kết nối logistics tốt hơn sẽ có cơ hội tiếp cận chuỗi giá trị rộng hơn thay vì phụ thuộc vào thương lái nhỏ lẻ.
Đáng chú ý, kế hoạch phát triển hạ tầng số của Quảng Ngãi cũng cho thấy xu hướng liên thông giữa công nghiệp và nông nghiệp. Cùng một hệ sinh thái dữ liệu, cloud, IoT và logistics có thể phục vụ đồng thời nhà máy thông minh tại Dung Quất và vùng trồng thông minh ở nông thôn. Đây là cách tiếp cận mới, khi hạ tầng số không còn bị chia cắt giữa “đô thị – công nghiệp” với “nông thôn – nông nghiệp”.

Chuyển đổi số chỉ hiệu quả khi hợp tác xã, tổ hợp tác và người dân có thể khai thác công nghệ trong thực tế sản xuất. Ảnh: MN
Cánh cửa mới chỉ mở khi vượt qua các điểm nghẽn thực thi
Dù vậy, từ mục tiêu đến thực tế vẫn còn khoảng cách khá lớn.
Điểm nghẽn đầu tiên là bài toán hạ tầng ở vùng sâu, vùng núi. 99% dân số được phủ sóng không đồng nghĩa mọi vùng sản xuất đều có kết nối ổn định. Những khu vực trồng dược liệu, vùng đồng bào dân tộc hay khu sản xuất xa trung tâm thường có chi phí đầu tư hạ tầng lớn hơn và khả năng khai thác thương mại thấp hơn.
Điểm nghẽn thứ hai là năng lực hấp thụ công nghệ của các hợp tác xã và hộ sản xuất nhỏ. Cloud, IoT, dữ liệu hay truy xuất số là những khái niệm không dễ vận hành nếu thiếu nhân lực, thiếu kỹ năng và thiếu nguồn vốn đầu tư ban đầu. Trong khi đó, phần lớn hợp tác xã nông nghiệp hiện vẫn hoạt động ở quy mô nhỏ, năng lực quản trị còn hạn chế.
Một thách thức khác nằm ở sự phân mảnh dữ liệu. Hiện dữ liệu đất đai, vùng trồng, thủy lợi, thời tiết, sản xuất, logistics hay thị trường vẫn còn nằm rời rạc ở nhiều hệ thống khác nhau. Nếu không có cơ chế liên thông và chia sẻ hiệu quả, hạ tầng số rất dễ dừng lại ở phần “kỹ thuật”, trong khi tác động đến tăng trưởng chưa thực sự rõ nét.
Kế hoạch cũng dành một phần đáng kể cho vấn đề an toàn, an ninh mạng, hệ thống SOC, cảnh báo sớm và bảo vệ dữ liệu. Điều này cho thấy cùng với quá trình mở rộng hạ tầng số, áp lực bảo vệ dữ liệu và bảo đảm an toàn chuỗi cung ứng số sẽ ngày càng lớn.
Hạ tầng số rõ ràng đang mở ra một cánh cửa mới cho kinh tế nông thôn Quảng Ngãi. Nhưng cánh cửa ấy chỉ thực sự có ý nghĩa khi công nghệ đi vào từng vùng trồng, từng hợp tác xã và từng chuỗi xuất khẩu. Khi đó, nông nghiệp và dược liệu sẽ không còn chỉ là khu vực sản xuất truyền thống, mà có thể trở thành một phần của năng lực cạnh tranh mới trong nền kinh tế số địa phương.
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Quảng Ngãi đang định hướng đưa dữ liệu, IoT và điện toán đám mây vào các hợp tác xã, vùng sản xuất nông nghiệp và dược liệu hàng hóa phục vụ xuất khẩu. Từ hạ tầng kết nối đến quản trị vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và logistics số, chuyển đổi số được kỳ vọng sẽ mở thêm dư địa tăng trưởng cho kinh tế nông thôn. Khi 5G bắt đầu đi vào vùng sản xuất.
Minh Nghĩa
(Thanh tra) - Sau hơn một tháng triển khai Chiến dịch 100 ngày số hóa, làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu, Thanh tra tỉnh Thái Nguyên đã tạo chuyển biến rõ nét trong xây dựng hồ sơ điện tử, số hóa tài liệu lưu trữ.
Trần Kiên
Minh Nghĩa
T. Minh
Trần Kiên
Dương Nguyễn
Dương Nguyễn
Minh Nghĩa
Minh Anh
Trí Vũ
Phương Hiếu
Đăng Tân
Đan Quế
T. Minh
Minh Nghĩa
T. Minh
Dương Nguyễn
Trần Kiên