Theo dõi Báo Thanh tra trên
Thứ sáu, 28/02/2014 - 21:26
(Thanh tra)- Ông Phạm Văn Huy (thôn Đồng Quan, xã Đồng Sơn, TP Bắc Giang (tỉnh Bắc Giang) khiếu nại (KN) Quyết định số 176 ngày 21/1/2013 của Chủ tịch UBND TP Bắc Giang về việc giải quyết đơn KN của ông, đề nghị điều chỉnh lại vị trí và khu vực đất gia đình đang sử dụng để áp dụng tính tiền thuê đất phù hợp với thực tế sử dụng đất…
Diễn biến phát sinh KN
Hộ ông Huy đang sử dụng 6.180m2 đất do UBND huyện Yên Dũng cho thuê tại thôn Đồng Quan, xã Đồng Sơn (nay thuộc TP Bắc Giang) để thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ bản hạ tầng sản xuất cá cảnh, ba ba.
Do hết thời hạn áp dụng giá để tính tiền thuê đất hàng năm, ngày 28/8/2012, Chủ tịch UBND TP Bắc Giang có Quyết định số 2927 phê duyệt đơn giá thuê đất của ông Huy với nội dung: “… Giá đất: Áp dụng bảng giá sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tại đô thị thuộc TP Bắc Giang (vị trí 1 đường quốc lộ 1A mới qua TP Bắc Giang) là 3.100.000/m2; tỷ lệ % để tính giá thuê đất là 2%; hệ số điều chỉnh giá đất là 1,2; đơn giá thuê đất là: 3.100.000 đồng/m2 x 2% x 1,2 = 74.400 đồng/m2/năm… Đơn giá nêu trên là căn cứ để xác định nghĩa vụ tài chính của hộ kinh doanh cá thể Phạm Văn Huy với Nhà nước, được áp dụng từ ngày 1/2/2012 đến 31/1/2017. Theo Quyết định trên, ông Huy phải nộp tiền thuê đất 1 năm là gần 460 triệu đồng (74.400 đồng x 6.180 m2). Ông Huy không đồng ý và có đơn KN…
Giải quyết KN, ngày 10/12/2012, Chủ tịch UBND TP Bắc Giang có Quyết định số 3732 phê duyệt đơn giá thuê đất của hộ ông Huy (thay thế Quyết định 2927 nói trên), trong đó ông Huy phải nộp tiền thuê đất 1 năm giảm xuống gần 184 triệu đồng.
Không đồng ý, ông Huy tiếp tục KN. Ngày 21/1/2013, Chủ tịch UBND TP Bắc Giang có Quyết định giải quyết KN số 176 với nội dung: “… Việc ông Huy KN Quyết định số 3732 và đề nghị điều chỉnh áp vị trí 2, khu vực 2 thuộc xã miền núi nhóm A là 250.000 đồng/m2 đối với thửa đất đang thuê là không có cơ sở, vì: Quyết định số 3732 về việc phê duyệt đơn giá thuê đất đối với đất ông đang thuê là phù hợp với quy định hiện hành. Trường hợp Bộ Giao thông Vận tải chỉ đạo đóng điểm đấu nối từ đường nhánh vào quốc lộ 1A mới, từ Km 118 + 523 đến Km 118 + 552 (bên phải hướng tuyến Lạng Sơn - Bắc Giang), thì Chủ tịch UBND TP sẽ điều chỉnh đơn giá thuê đất cho phù hợp với thực tế…”. Ông Huy không đồng ý và tiếp khiếu lên Chủ tịch UBND tỉnh.
Nguồn gốc và quá trình sử dụng đất
Năm 2006, ông Huy nhận chuyển nhượng hơn 13.000m2 đất nông nghiệp của 52 hộ gia đình tại khu dộc Mả Đồng và Bãi Cát, thôn Đồng Quan, xã Đồng Sơn để thực hiện dự án nuôi cá cảnh và ba ba và được Chủ tịch UBND huyện Yên Dũng chấp thuận với thời hạn 25 năm.
Ngày 30/10/2007, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện có văn bản cho ông Huy thuê diện tích 7.262m2 thuộc khu vực 2, xã miền núi nhóm A, vị trí 2.
Ngày 2/11/2007, Chủ tịch UBND huyện có Quyết định số 2585 về việc áp dụng đơn giá thuê đất với ông Huy như sau: Áp theo Điều 3, khoản 3 của Quyết định số 39/2006 ngày 31/5/2006 của UBND tỉnh, tức bằng 5% giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp cùng vị trí, cùng địa bàn do UBND tỉnh quy định đối với dự án của ông Huy.
Ngày 19/11/2007, ông Huy được huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 7.262m2.
Ngày 26/11/2007, Chi cục Thuế huyện có văn bản nêu đất của ông Huy thuộc khu vực 2, xã miền núi nhóm A, vị trí 2. Tổng số tiền phải nộp tính cho 1 năm là 3.631.150 đồng (7.262 x 100.000 đồng/m2 x 0,5%). Hộ ông Huy đã nộp và không có KN.
Do không còn nhu cầu sử dụng, ông Huy có đơn xin trả lại 1.081m2 đất trong diện tích đang thuê và còn lại 6.180m2. Diện tích trả lại huyện thu hồi và cho hộ ông Phạm Quang Phú thuê.
Qua rà soát, xác minh đơn KN, Đoàn công tác của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh cho biết, thửa đất ông Huy đang thuê để sản xuất kinh doanh (nay thuộc TP Bắc Giang) không nằm trong đô thị, không tiếp giáp với trục đường giao thông quốc lộ 1A, có đường tạm đấu nối vào quốc lộ 1A và bị khuất lấp bởi thửa đất của ông Phú. Do đó, việc xác định theo điểm 1.2, khoản 1, Điều 2 của Quyết định số 480 ngày 28/12/2011 của UBND tỉnh về ban hành Bảng mức giá các loại đất năm 2012 áp dụng trên địa bàn tỉnh: “Xác định giá đất trong trường hợp lô đất có nhiều vị trí khác nhau nhưng quyết định này chưa quy định đủ vị trí: … Vị trí 3: Hệ số = 0,4 giá của vị trí 1…”, đều không chính xác. Như vậy, Quyết định số 3732 nói trên của Chủ tịch UBND TP Bắc Giang phê duyệt đơn giá thuê đất ông Huy xác định đất thuộc vị trí 3 đường quốc lộ 1A mới qua TP Bắc Giang là không đúng quy định của Quyết định 480 do UBND tỉnh ban hành.
Xác định đúng quy định thì đất ông Huy nằm ở vị trí có tỷ lệ là 1,8% để tính giá thuê đất, việc UBND TP Bắc Giang tính tỷ lệ 2% để tính giá thuê đất cho ông Huy là sai.
Như vậy, ông Huy KN Quyết định giải quyết KN số 176 của Chủ tịch UBND TP Bắc Giang đối với ông và đề nghị điều chỉnh lại vị trí và khu vực đất gia đình ông đang sử dụng để áp dụng tính tiền thuê đất là có cơ sở…
Thống nhất với rà soát, xác minh của Đoàn công tác, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang ban hành quyết định hủy bỏ các Quyết định số 3732 và Quyết định 176 của Chủ tịch UBND TP Bắc Giang về phê duyệt đơn giá thuê đất và giải quyết KN đối với ông Huy.
Giao Chủ tịch UBND TP Bắc Giang lập lại hồ sơ phê duyệt áp dụng đơn giá thu tiền thuê đất đối với hộ ông Huy đúng quy định như đã nêu trên.
Hồng Minh
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Kết luận thanh tra của Thanh tra An toàn bức xạ và hạt nhân cho thấy, Công ty TNHH Khai thác Chế biến Khoáng sản Núi Pháo (Thái Nguyên) đã cơ bản chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về an toàn bức xạ và hạt nhân trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số tồn tại cần sớm khắc phục nhằm bảo đảm tuyệt đối an toàn trong lĩnh vực đặc thù này.
Trí Vũ
(Thanh tra) - Thanh tra Chính phủ vừa thông báo kết luận thanh tra về công tác phòng, chống lãng phí trong quản lý, sử dụng cơ sở nhà, đất của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Nhà nước tại tỉnh Phú Thọ, qua đó chỉ ra hàng loạt tồn tại, sai phạm kéo dài nhiều năm, tiềm ẩn nguy cơ thất thoát, lãng phí tài sản Nhà nước.
Trần Kiên
Trần Quý
Minh Nghĩa
Minh Nghĩa
Đăng Tân
Hải Hà
Cảnh Nhật
Thái Hải
Thái Hải
Trọng Tài
Dương Anh
H.T
Lan Anh
Thu Huyền
Minh Nguyệt
H.T