Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

Thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện!

Thứ ba, 12/07/2016 - 06:56

(Thanh tra)- Ngày 30/7/2012, Công ty Cổ phần (CTCP) A ký “Hợp đồng hợp tác kinh doanh” về quyền đầu tư kinh doanh toàn bộ các hoạt động dịch vụ thương mại của một khách sạn tọa lạc tại huyện V (tỉnh N) do CTCP B là chủ sở hữu. Thời hạn thực hiện hợp đồng là 20 năm.

Tuy nhiên, chỉ sau 3 năm thực hiện hợp đồng, đầu tháng 7/2015, tranh chấp giữa 2 bên đã xảy ra; CTCP B khởi kiện CTCP A. Căn cứ quyết định “áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời” của tòa án huyện, CTCP B đã tiến hành cưỡng chế, tước đoạt quyền kinh doanh các hoạt động dịch vụ thương mại của CTCP A.

Ông Nguyễn Văn H, Giám đốc CTCP A nêu thắc mắc đồng thời đề nghị Tòa soạn tư vấn pháp luật:

- Hợp đồng kinh tế do 2 bên thoả thuận có mức tiền đầu tư 37 tỷ đồng, trong đó nêu rõ: Trường hợp có tranh chấp mà thương lượng không thành thì sẽ đưa ra giải quyết tại Toà Kinh tế - TAND tỉnh, nhưng Toà án huyện V lại thụ lý vụ kiện: Đúng hay sai?

- Thẩm phán chưa mời chúng tôi lên để hoà giải, đã ban hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Luật có cho phép làm thế không?

Ý kiến của chúng tôi

1. Thỏa thuận chọn Tòa Kinh tế - TAND tỉnh giải quyết khi xảy ra tranh chấp thể hiện mong muốn của 2 bên khi giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, thỏa thuận cần phải phù hợp quy định của pháp luật. CTCP B khởi kiện CTCP A ra Tòa án huyện V là đúng quy định tại mục b Khoản 1 Điều 33 Bộ luật Tố tụng Dân sự: Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại Khoản 1 Điều 29 của Bộ Luật này thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện theo thủ tục sơ thẩm (Khoản 1 Điều 29: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm: A/ Mua bán hàng hóa; B/ Cung ứng dịch vụ;…). Về tình tiết “hợp đồng kinh tế do 2 bên thoả thuận có mức tiền đầu tư 37 tỷ đồng”: Pháp luật không quy định thẩm quyền của Tòa án cấp huyện giải quyết vụ kiện bị “giới hạn” bởi mức tiền đầu tư trong hợp đồng tranh chấp.

2. Tại Khoản 2 Điều 34, Bộ luật Tố tụng Dân sự cũng quy định: “TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện quy định tại Điều 33 của Bộ luật này mà TAND cấp tỉnh lấy lên để giải quyết”.

Như vậy, có thể hiểu, TAND tỉnh N cũng có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự này nhưng phải “lấy lên” từ TAND huyện V để giải quyết, chứ TAND tỉnh không có thẩm quyền trực tiếp nhận ngay từ ban đầu để thụ lý vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Để vụ án dân sự này được “lấy lên” giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, CTCP A có thể gửi đơn đề nghị TAND tỉnh xem xét, quyết định.

3. Pháp luật không quy định Tòa án phải tiến hành “hòa giải xong” thì mới được “áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”. Thậm chí, tại Khoản 2 Điều 99, Bộ luật Tố tụng Dân sự còn quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho tòa án đó”.

Tuy nhiên, tại Khoản 2 Điều 101 Bộ luật Tố tụng Dân sự đã quy định hết sức chặt chẽ:

“Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì Toà án phải bồi thường nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

A) Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

B) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu;

C) Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ quan, tổ chức”.

Luật gia, nhà báo Nguyễn Chấn

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Tin mới nhất

Xem thêm