Theo dõi Báo Thanh tra trên
TS.Đinh Văn Minh, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, TTCP
Thứ hai, 22/06/2026 - 10:00
(Thanh tra) - Nghiên cứu cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội là yêu cầu khách quan xuất phát từ cả lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế.
Việc Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 06-CT/Tw ngày 06/6/2026 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm sát nhân dân trong giai đoạn mới, trong đó yêu cầu nghiên cứu các biện pháp thu hồ, xử lý tài sản không qua kết tội (non-conviction based asset forfeiture - NCB), đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu pháp lý cũng như các cơ quan thực thi pháp luật.
Đây là một chủ trương quan trọng, phản ánh tư duy đổi mới trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, đồng thời tiệm cận với xu hướng pháp lý quốc tế trong xử lý tài sản bất minh.

Nghiên cứu cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội là yêu cầu khách quan xuất phát từ cả lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế. Ảnh: Bảo Anh
Trong nhiều năm qua, mặc dù công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng ở Việt Nam đạt được nhiều kết quả tích cực, song việc thu hồi tài sản tham nhũng vẫn là một trong những khâu khó khăn nhất. Nhiều trường hợp tài sản có dấu hiệu bất minh rất rõ ràng nhưng không đủ căn cứ chứng minh mối liên hệ trực tiếp giữa tài sản đó với một hành vi phạm tội cụ thể để có thể áp dụng các biện pháp tịch thu theo thủ tục tố tụng hình sự truyền thống. Chính vì vậy, nghiên cứu cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội là yêu cầu khách quan xuất phát từ cả lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế.
Nền tảng lý luận quan trọng nhất của cơ chế này xuất phát từ nguyên tắc công bằng phổ quát: không ai có quyền hưởng lợi từ những gì không thuộc về mình. Trong khoa học pháp lý hiện đại, đây được xem là nguyên tắc ngăn ngừa hành vi làm giàu bất hợp pháp và bảo vệ trật tự sở hữu hợp pháp trong xã hội.
Bản chất của thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội không phải là trừng phạt một cá nhân, mà là xử lý đối với chính tài sản. Nhà nước không tập trung chứng minh một người có phạm tội hay không mà tập trung xác định liệu tài sản đó có nguồn gốc hợp pháp hay không. Nếu có căn cứ cho thấy tài sản là sản phẩm của tham nhũng, rửa tiền hoặc các hoạt động phạm tội khác, nhưng vì những lý do khách quan không thể hoặc không cần thiết tiến hành kết án hình sự, Nhà nước vẫn có thể áp dụng cơ chế dân sự hoặc thủ tục tư pháp đặc biệt để thu hồi tài sản.
Quan điểm này dựa trên sự phân biệt giữa trách nhiệm hình sự đối với con người và trách nhiệm pháp lý đối với tài sản. Trong khi trách nhiệm hình sự đòi hỏi phải chứng minh hành vi phạm tội của một cá nhân theo tiêu chuẩn rất nghiêm ngặt, thì việc xác lập quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản lại là một vấn đề khác. Không thể vì không đủ căn cứ kết tội một người mà mặc nhiên thừa nhận tính hợp pháp của những tài sản có dấu hiệu bất minh.

Hội thảo quốc tế về tăng cường hiệu quả cơ chế thu hồi tài sản tại Việt Nam do Thanh tra Chính phủ phối hợp với Văn phòng Cơ quan Phòng, chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) tại Việt Nam tổ chức hồi tháng 3/2026. Ảnh: Trần Quý - Lê Phương
Trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, nhiều học giả cho rằng mục tiêu quan trọng nhất không chỉ là trừng trị người phạm tội mà còn phải tước bỏ những lợi ích bất hợp pháp mà họ thu được. Nếu người phạm tội vẫn giữ được tài sản thì hiệu quả răn đe của pháp luật sẽ bị suy giảm đáng kể. Chính vì vậy, Liên hợp quốc cũng nhiều lần nhấn mạnh nguyên tắc “crime should not pay” - tội phạm không được phép mang lại lợi ích.
Từ góc độ kinh tế học pháp luật, tham nhũng là hành vi được thúc đẩy bởi lợi ích vật chất. Khi lợi ích thu được lớn hơn nguy cơ bị phát hiện và xử lý, hành vi tham nhũng sẽ có xu hướng gia tăng. Do đó, việc thu hồi triệt để tài sản bất hợp pháp chính là biện pháp làm giảm động cơ phạm tội hiệu quả nhất.
Thực tiễn phòng, chống tham nhũng ở nhiều quốc gia cho thấy việc chứng minh nguồn gốc phạm tội của tài sản thường khó khăn hơn rất nhiều so với việc phát hiện dấu hiệu bất minh của tài sản đó.
Trong các vụ án tham nhũng hiện đại, tài sản thường được che giấu dưới nhiều hình thức tinh vi như đứng tên người thân, chuyển đổi thành bất động sản, cổ phiếu, vàng, ngoại tệ hoặc chuyển ra nước ngoài. Quá trình hình thành tài sản bất hợp pháp có thể kéo dài hàng chục năm, qua nhiều giao dịch trung gian, khiến việc chứng minh mối liên hệ trực tiếp giữa tài sản và hành vi phạm tội trở nên vô cùng phức tạp.
Tại Việt Nam, dư luận không ít lần đặt câu hỏi về những trường hợp cán bộ, công chức hoặc người có chức vụ, quyền hạn sở hữu khối tài sản rất lớn, vượt xa khả năng tích lũy từ tiền lương và thu nhập hợp pháp. Tuy nhiên, để xử lý hình sự và tịch thu tài sản, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh được hành vi tham nhũng cụ thể, thời gian, địa điểm, phương thức thực hiện, khoản lợi ích thu được và mối liên hệ giữa khoản lợi ích đó với tài sản đang bị xem xét. Đây là yêu cầu hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc suy đoán vô tội của tố tụng hình sự, nhưng trên thực tế lại tạo ra khoảng trống trong việc xử lý các tài sản có dấu hiệu bất minh.
Không ít trường hợp người có liên quan đã chết, bỏ trốn, mất năng lực hành vi hoặc hành vi phạm tội xảy ra từ rất lâu khiến việc khởi tố, điều tra không còn khả thi. Trong những tình huống đó, tài sản có dấu hiệu bất hợp pháp vẫn tồn tại nhưng Nhà nước gặp khó khăn trong việc thu hồi.
Một thực tế khác là tỷ lệ thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng tuy đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây nhưng vẫn chưa tương xứng với giá trị thiệt hại thực tế. Điều này cho thấy cơ chế thu hồi tài sản dựa hoàn toàn vào bản án hình sự chưa phải là giải pháp duy nhất và tối ưu.
Do đó, việc nghiên cứu cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội không nhằm thay thế tố tụng hình sự mà nhằm bổ sung thêm một công cụ pháp lý để xử lý những trường hợp mà cơ chế hiện hành chưa thể giải quyết hiệu quả.

TS.Đinh Văn Minh, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, TTCP. Ảnh: NVCC
Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội như một bộ phận quan trọng trong chiến lược phòng, chống tham nhũng và tội phạm có tổ chức.
Tại Hoa Kỳ, cơ chế civil forfeiture đã được áp dụng từ nhiều thập niên. Nhà nước có thể khởi kiện đối với chính tài sản nếu có căn cứ cho rằng tài sản liên quan đến hoạt động phạm tội. Trong trường hợp này, vụ việc không nhằm xác định trách nhiệm hình sự của chủ sở hữu mà nhằm xác định tình trạng pháp lý của tài sản.
Vương quốc Anh áp dụng cơ chế tương tự thông qua Đạo luật về lợi ích do phạm tội mà có (Proceeds of Crime Act). Cơ quan có thẩm quyền có thể yêu cầu tòa án ban hành lệnh thu hồi đối với những tài sản mà chủ sở hữu không chứng minh được nguồn gốc hợp pháp.
Italia, một trong những quốc gia có nhiều kinh nghiệm đấu tranh với tội phạm mafia, cũng cho phép tịch thu tài sản ngay cả khi không có bản án kết tội trong một số trường hợp đặc biệt. Chính cơ chế này đã góp phần đáng kể vào việc triệt phá nền tảng tài chính của các tổ chức tội phạm.
Nhiều quốc gia khác như Ireland, Australia, Canada, Singapore và Nam Phi cũng đã xây dựng các mô hình pháp lý khác nhau nhằm xử lý tài sản bất minh mà không hoàn toàn phụ thuộc vào việc kết án hình sự.
Điểm chung của các mô hình này là đều đặt trọng tâm vào việc chứng minh tính hợp pháp của tài sản thay vì chỉ tập trung chứng minh hành vi phạm tội. Đồng thời, các quốc gia đều xây dựng cơ chế kiểm soát tư pháp chặt chẽ nhằm bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp và quyền con người.
Việc nghiên cứu cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội cũng phù hợp với xu hướng được ghi nhận trong Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC), mà Việt Nam là thành viên từ năm 2009.
Điều 31 UNCAC yêu cầu các quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm tịch thu hoặc thu hồi tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng. Đáng chú ý, khoản 8 Điều 31 khuyến khích các quốc gia xem xét yêu cầu người phạm tội chứng minh nguồn gốc hợp pháp của tài sản bị nghi ngờ có liên quan đến tội phạm, trong phạm vi phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia.
Đặc biệt, Điều 54 UNCAC đề cập trực tiếp đến khả năng áp dụng cơ chế tịch thu tài sản mà không cần bản án hình sự trong những trường hợp thích hợp, chẳng hạn khi người phạm tội đã chết, bỏ trốn hoặc không thể bị truy tố.
Bên cạnh đó, Điều 20 UNCAC quy định về hành vi làm giàu bất chính (illicit enrichment). Theo điều khoản này, các quốc gia có thể xem xét hình sự hóa hành vi một công chức sở hữu khối tài sản gia tăng đáng kể mà không thể giải thích hợp lý so với thu nhập hợp pháp của mình.
Mặc dù Điều 20 không bắt buộc các quốc gia phải hình sự hóa tội làm giàu bất chính, nhưng tinh thần của điều khoản này cho thấy cộng đồng quốc tế đã thừa nhận rằng sự gia tăng bất thường về tài sản là dấu hiệu quan trọng để xem xét tính hợp pháp của khối tài sản đó.
Có thể nói, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội chính là một trong những công cụ hiện thực hóa mục tiêu mà UNCAC hướng tới, đó là bảo đảm không để tài sản tham nhũng tiếp tục nằm ngoài sự kiểm soát của pháp luật.
Mặc dù có nhiều ưu điểm, nhưng việc xây dựng cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội tại Việt Nam cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu phòng, chống tham nhũng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Trước hết, cần xác định rõ phạm vi áp dụng. Đây không nên là cơ chế áp dụng đại trà đối với mọi loại tài sản mà chỉ nên tập trung vào các trường hợp có dấu hiệu bất minh rõ ràng, đặc biệt là tài sản của người có chức vụ, quyền hạn hoặc tài sản liên quan đến các vụ việc tham nhũng, rửa tiền và tội phạm có tổ chức.
Thứ hai, cần quy định chặt chẽ về tiêu chuẩn chứng minh. Cơ quan nhà nước phải có nghĩa vụ đưa ra những căn cứ đáng tin cậy cho thấy tài sản có dấu hiệu bất hợp pháp trước khi yêu cầu chủ sở hữu giải trình nguồn gốc. Không thể chỉ dựa trên suy đoán hoặc cảm tính.
Thứ ba, phải bảo đảm quyền được bảo vệ của chủ sở hữu tài sản. Người bị yêu cầu giải trình phải có quyền tiếp cận hồ sơ, cung cấp chứng cứ, tranh tụng tại tòa án và khiếu nại, kháng cáo theo quy định pháp luật.
Thứ tư, mọi quyết định thu hồi tài sản cần được đặt dưới sự kiểm soát của cơ quan tư pháp độc lập, tránh nguy cơ lạm quyền hoặc xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp.
Cuối cùng, cần nghiên cứu mối quan hệ giữa cơ chế này với chế định kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập hiện hành trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018. Đây có thể là nguồn thông tin quan trọng để phát hiện các trường hợp tài sản gia tăng bất thường cần được xem xét theo thủ tục đặc biệt.
Chủ trương nghiên cứu biện pháp thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội được nêu trong Chỉ thị số 06 của Bộ Chính trị là một định hướng có ý nghĩa quan trọng đối với công tác phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là yêu cầu xuất phát từ thực tiễn đấu tranh với các dạng tham nhũng ngày càng tinh vi mà còn phù hợp với xu hướng phát triển của pháp luật quốc tế.
Về bản chất, cơ chế này được xây dựng trên nguyên tắc công bằng rằng không ai có quyền hưởng lợi từ những tài sản không thuộc về mình hoặc có nguồn gốc bất hợp pháp. Trong bối cảnh còn tồn tại những trường hợp tài sản gia tăng bất thường nhưng khó chứng minh được hành vi tham nhũng cụ thể để xử lý hình sự, việc bổ sung công cụ pháp lý mới nhằm thu hồi tài sản bất minh là yêu cầu cần được nghiên cứu nghiêm túc.
Tuy nhiên, đây là vấn đề mới, tác động trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân nên cần được thiết kế với những điều kiện áp dụng chặt chẽ, cơ chế kiểm soát tư pháp nghiêm ngặt và các bảo đảm đầy đủ về quyền con người. Chỉ khi đạt được sự cân bằng giữa hiệu quả chống tham nhũng và bảo vệ quyền tài sản hợp pháp, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội mới có thể trở thành công cụ hữu hiệu góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, liêm chính, minh bạch và phát triển bền vững.
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Nghiên cứu cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội là yêu cầu khách quan xuất phát từ cả lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế.
TS.Đinh Văn Minh, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, TTCP
(Thanh tra) - Từ thực tiễn các kết luận thanh tra của Thanh tra Chính phủ về chứng khoán, thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ, yêu cầu chuyển sang giám sát rủi ro dựa trên dữ liệu trở nên cấp thiết hơn.
TS. Hoàng Ngọc Sơn, Cục VI, Thanh tra Chính phủ
Trí Vũ
Minh Nghĩa - Vũ Linh
Minh Nghĩa - Vũ Linh
Minh Nghĩa - Vũ Linh
TS.Đinh Văn Minh, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, TTCP
Quang Dân
Hòa Bình
Hương Giang
Hương Giang
VP
Trung Hà
Trí Thành
Minh Nghĩa
B.S
Nhóm PV A lô Thanh tra
BTT