Theo dõi Báo Thanh tra trên
TS.Hoàng Ngọc Sơn - Cục VI, Thanh tra Chính phủ
Thứ bảy, 31/10/2026 - 11:05
(Thanh tra) - Phạm vi quản lý Nhà nước ngày càng rộng trong khi nguồn lực thanh tra có giới hạn. Yêu cầu không phải là tăng số cuộc, mà là nâng chất lượng quyết định: Đúng đối tượng, nội dung, thời điểm và công cụ.
Kết nối dữ liệu, nhận diện rủi ro, tổ chức khắc phục, đánh giá chuyển biến và phản hồi chính sách thành một chu trình khép kín sẽ giúp hoạt động thanh tra sử dụng nguồn lực có trọng tâm, phòng ngừa vi phạm và nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước.

Đại biểu dự hội thảo khoa học quốc gia về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong kỷ nguyên mới. Ảnh: Báo Thanh tra
Các lĩnh vực quản lý liên thông khiến rủi ro có thể lan từ khâu này sang khâu khác. Nhân lực và thời gian thanh tra có giới hạn. Vấn đề cốt lõi vì thế là nhìn toàn cục, xác lập thứ tự ưu tiên và phân bổ nguồn lực vào nơi cần được xem xét nhất.
Dữ liệu quản lý, lịch sử tuân thủ, kết quả thanh tra, kiểm tra cần được tổng hợp thành bản đồ rủi ro theo lĩnh vực, đối tượng. Xếp ưu tiên phải xem xét khả năng xảy ra, mức độ tác động, quy mô nguồn lực và hiệu lực kiểm soát. Nhờ đó, việc phân bổ nguồn lực có căn cứ và giải trình được.
Rủi ro không đồng nghĩa với vi phạm. Chỉ báo bất thường cho thấy vấn đề cần xem xét, nhưng không tự chứng minh hành vi vi phạm và không mặc nhiên dẫn đến thanh tra. Tùy tính chất và thẩm quyền, biện pháp phù hợp có thể là theo dõi, kiểm tra chuyên ngành hoặc thanh tra. Phân tích rủi ro không thay thế căn cứ, thẩm quyền, thủ tục luật định; cũng không được dùng để bỏ qua trường hợp pháp luật yêu cầu tiến hành thanh tra.
Điều 60 Luật Thanh tra năm 2025 quy định về xây dựng cơ sở dữ liệu và ứng dụng công nghệ số phục vụ thanh tra. Từ nền tảng này, cần đổi mới cả cách chuẩn bị thông tin và kiểm soát quyết định, thay vì chỉ số hóa hồ sơ.
Số hóa hồ sơ mới giải quyết khâu lưu trữ và truy xuất. Dữ liệu chỉ trở thành nguồn lực quản trị khi có kỷ luật dữ liệu: Chuẩn chung, đầu mối chịu trách nhiệm, cập nhật, phân quyền và dấu vết kiểm tra. Cần kết nối dữ liệu quản lý với dữ liệu thanh tra, kiểm tra, kiểm toán về sai phạm, nguyên nhân, kiến nghị, kết quả khắc phục và tình trạng tái diễn.
Hồ sơ rủi ro cần phản ánh lịch sử tuân thủ và kết quả khắc phục đã được kiểm chứng. Bên cạnh điểm số phải có nguồn, thời điểm cập nhật, lý do xếp hạng và mức độ tin cậy của dữ liệu. Thiếu thông tin không đồng nghĩa với rủi ro thấp; biến động bất thường cũng cần được xem xét trong điều kiện hoạt động cụ thể.
Công nghệ và trí tuệ nhân tạo có thể gợi ý quan hệ bất thường, nhưng kết quả phải giải thích và kiểm tra được. Công cụ không thay thế đánh giá nghề nghiệp, thẩm quyền và trách nhiệm của con người. Người quyết định phải xem xét cả thông tin củng cố và thông tin phản bác nhận định rủi ro.
Cơ quan thanh tra không hình thành toàn bộ dữ liệu và không làm thay quản lý thường xuyên; nhiều tín hiệu xuất hiện từ cấp phép, báo cáo, giám sát và kiểm tra chuyên ngành. Theo Điều 58 Luật Thanh tra năm 2025, qua kiểm tra, khi cần thanh tra để làm rõ dấu hiệu vi phạm, cơ quan Nhà nước yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan thanh tra có thẩm quyền tiến hành. Thông tin cần liên thông, nhưng thẩm quyền phải rõ.
Quản lý thường xuyên tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật. Giám sát thực hiện theo cơ chế của từng lĩnh vực, không đồng nhất với giám sát hoạt động của đoàn thanh tra. Kiểm tra chuyên ngành xem xét, đánh giá, xử lý việc chấp hành pháp luật chuyên ngành; thanh tra xem xét, đánh giá, kết luận, kiến nghị xử lý theo trình tự luật định. Các công cụ bổ trợ nhưng không thay thế nhau.
Nghị định số 217/2025/NĐ-CP yêu cầu tránh chồng chéo, bảo đảm phối hợp, ưu tiên kiểm tra từ xa dựa trên dữ liệu điện tử và miễn kiểm tra thực tế đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tuân thủ tốt quy định của pháp luật. Dữ liệu và lịch sử tuân thủ vì thế giúp điều chỉnh cường độ quản lý, giảm gánh nặng không cần thiết và tập trung hơn vào khu vực có rủi ro cao.
Khi cần thanh tra, phải lựa chọn cả đối tượng ưu tiên và nội dung trọng tâm. Trải đều nguồn lực dễ làm cuộc thanh tra dài nhưng thiếu chiều sâu. Phân tích rủi ro phải trả lời câu hỏi thanh tra ai, nội dung gì và vì sao ưu tiên ở thời điểm đó.
Số cuộc thanh tra, số vi phạm, số tiền kiến nghị thu hồi và số tổ chức, cá nhân được kiến nghị xem xét trách nhiệm là đầu ra cần thiết. Các Điều 53-55 Luật Thanh tra năm 2025 còn quy định việc tổ chức thực hiện, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra kết luận, gắn với khắc phục sai phạm và hoàn thiện chính sách, pháp luật. Ban hành kết luận vì vậy chưa phải điểm kết thúc.
Khung đánh giá nên có ba tầng. Tầng thực hiện xác định tiền, tài sản đã thu hồi, trách nhiệm đã xử lý và hậu quả đã khắc phục. Tầng chuyển biến đo tuân thủ, sửa đổi quy trình và kiểm soát nội bộ. Tầng tác động theo dõi khả năng giảm tái phạm và kết quả xử lý kiến nghị chính sách. Chỉ tiêu cần gắn với dữ liệu kiểm chứng, mốc theo dõi và chủ thể có trách nhiệm.
Nếu kết luận đã được báo cáo là thực hiện xong nhưng cùng dạng sai phạm lại xuất hiện với cùng nguyên nhân, cần kiểm chứng lại hiệu quả khắc phục. Đánh giá phải so với trạng thái trước khắc phục và xét các tác động khác, tránh quy toàn bộ chuyển biến cho thanh tra. Kết quả kiểm chứng là căn cứ điều chỉnh hồ sơ rủi ro, không tự động giảm mức ưu tiên.
Điều 3 Luật Thanh tra năm 2025 xác định mục đích phát hiện hạn chế, bất cập trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị khắc phục. Điểm đ, khoản 2, Điều 36 còn yêu cầu kết luận thanh tra nêu bất cập có liên quan và kiến nghị khắc phục. Đây là cơ sở để chuyển phát hiện của từng cuộc thanh tra thành tri thức quản lý ở cấp hệ thống.

Tọa đàm khoa học với chủ đề: Rủi ro trong hoạt động thanh tra. Ảnh: Báo Thanh tra
Một sai phạm riêng lẻ có thể bắt nguồn từ hành vi cá nhân. Khi cùng dạng sai phạm xuất hiện ở nhiều đơn vị hoặc lặp lại, cần xem xét nguyên nhân chung: Quy định chưa rõ, quy trình có kẽ hở, trách nhiệm chưa được phân định hoặc kiểm soát yếu. Tổng hợp theo lĩnh vực, hành vi và nguyên nhân giúp phân biệt sai phạm cá biệt với rủi ro hệ thống. Sự lặp lại chưa tự chứng minh bất cập thể chế và không làm giảm trách nhiệm thực thi.
Chuỗi phân tích đi từ sai phạm đến mẫu hình, nguyên nhân, kiến nghị sửa đổi và theo dõi phản hồi. Kết luận thanh tra vừa là đầu ra của một cuộc thanh tra, vừa là đầu vào của chu kỳ quản trị tiếp theo.
Thứ nhất, cơ quan quản lý Nhà nước và cơ quan thanh tra, trong phạm vi thẩm quyền, xây dựng khung rủi ro có phần lõi dùng chung và chỉ báo theo lĩnh vực. Chỉ báo phải có nguồn dữ liệu, ngưỡng cảnh báo kiểm tra được; kết quả là danh mục ưu tiên có căn cứ, không phải bảng điểm máy móc.
Thứ hai, cơ quan quản lý dữ liệu và cơ quan thanh tra thống nhất dữ liệu thiết yếu, đầu mối cung cấp, cập nhật, kiểm soát chất lượng và quyền khai thác. Nguyên tắc là đúng, đủ, kịp thời, an toàn, truy nguyên được; đầu ra là hồ sơ rủi ro đủ tin cậy.
Thứ ba, đơn vị tham mưu kế hoạch thanh tra cần kết hợp phân tích rủi ro với căn cứ luật định, yêu cầu quản lý và nguồn lực. Lựa chọn phải được xem xét trên toàn danh mục để tránh phân tán, trùng lặp; hồ sơ nêu rõ lý do chọn đối tượng, nội dung, thời kỳ và thời điểm. Người có thẩm quyền quyết định và chịu trách nhiệm.
Thứ tư, đơn vị nghiệp vụ phối hợp với đơn vị công nghệ kiểm soát mô hình và công cụ trí tuệ nhân tạo. Kết quả phải giải thích được, được con người kiểm tra; dữ liệu được phân quyền, bảo mật; nhật ký và phiên bản mô hình đủ để rà soát thiên lệch. Không đưa dữ liệu chưa được phép lên công cụ bên ngoài.
Thứ năm, cơ quan ban hành kết luận và cơ quan quản lý liên quan cần theo dõi xử lý kinh tế, trách nhiệm, hậu quả, tuân thủ, tái phạm và kiến nghị chính sách theo đúng chức năng. Kết quả phải có căn cứ, mốc theo dõi và được cập nhật vào hồ sơ rủi ro của kỳ sau.
Thứ sáu, cơ quan thanh tra cần định kỳ tổng hợp sai phạm lặp lại, nguyên nhân chung và quy định thường phát sinh vướng mắc. Sản phẩm tổng hợp nêu bằng chứng, phạm vi ảnh hưởng, nguyên nhân, cơ quan có thẩm quyền xử lý và cách theo dõi phản hồi; qua đó chuyển tri thức từ từng cuộc thanh tra thành kiến nghị quản lý và thể chế.
Trong lĩnh vực phòng, chống rửa tiền, Quyết định số 1139/QĐ-TTg ngày 26/6/2026 yêu cầu áp dụng thanh tra, kiểm tra, giám sát và xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra trên cơ sở rủi ro. FATF nhấn mạnh tập trung nguồn lực vào nơi rủi ro cao và cập nhật hiểu biết về rủi ro. Đây là kinh nghiệm trong một lĩnh vực chuyên biệt; vận dụng rộng hơn phải đặt trong khuôn khổ pháp luật, tổ chức của Việt Nam.
Nên bắt đầu ở lĩnh vực đủ dữ liệu; thử nghiệm chỉ báo; đánh giá độ chính xác, chi phí, tác động rồi mới mở rộng. Triển khai từng bước giúp kiểm soát sai lệch, bồi dưỡng năng lực và tránh tạo thêm thủ tục.
Chu trình gồm dữ liệu, nhận diện rủi ro, xác định ưu tiên, lựa chọn công cụ quản lý, thanh tra khi cần thiết, tổ chức khắc phục, đánh giá chuyển biến, hoàn thiện quản lý và thể chế, rồi cập nhật dữ liệu, hồ sơ rủi ro cho kỳ sau. Kết nối các khâu này giúp sử dụng nguồn lực có trọng tâm, nâng chất lượng quyết định và biến kết quả thanh tra thành năng lực phòng ngừa của hệ thống.
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Phạm vi quản lý Nhà nước ngày càng rộng trong khi nguồn lực thanh tra có giới hạn. Yêu cầu không phải là tăng số cuộc, mà là nâng chất lượng quyết định: Đúng đối tượng, nội dung, thời điểm và công cụ.
TS.Hoàng Ngọc Sơn - Cục VI, Thanh tra Chính phủ
(Thanh tra) - Đối với hoạt động thanh tra, việc thực hiện cơ chế ủy quyền có ý nghĩa quan trọng trong phân định thẩm quyền, nâng cao trách nhiệm cá nhân và bảo đảm hiệu quả thực thi nhiệm vụ.
TS. Trần Thị Thúy, Trưởng phòng Nghiên cứu và Hợp tác phát triển, Trường Cán bộ thanh tra
Bảo Anh
Bảo Anh
TS. Nguyễn Thị Hồng Thúy, Trưởng Khoa Nghiệp vụ 2 - Trường Cán bộ Thanh tra
ThS Phạm Hồng Lương, Trường Cán bộ Thanh tra
Thành Công
Nhài Huyền
TS.Hoàng Ngọc Sơn - Cục VI, Thanh tra Chính phủ
Giang Sơn
Thiên Tâm
Hoàng Hưng
Vân Trang
Đăng Tân