Theo dõi Báo Thanh tra trên
TS. Nguyễn Thị Hồng Thúy, Trưởng Khoa Nghiệp vụ 2 - Trường Cán bộ Thanh tra
Thứ bảy, 24/10/2026 - 08:00
(Thanh tra) - Phương pháp đánh giá cần khuyến khích tính chủ động, sự trung thực và kết quả khắc phục hậu quả, thay vì tạo động cơ che giấu hoặc né tránh phát hiện vi phạm.
Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa trực tiếp đối với hiệu lực quản lý nhà nước, kỷ luật công vụ và niềm tin xã hội. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ này, một vấn đề không kém phần quan trọng so với việc xác định biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý là làm thế nào để đánh giá được mức độ thực hiện và hiệu quả của các biện pháp đó. Nếu thiếu một hệ thống tiêu chí rõ ràng, hoạt động đánh giá dễ phụ thuộc vào mô tả thành tích, số lượng văn bản hoặc nhận định định tính; ngược lại, nếu chỉ chạy theo con số, kết quả đánh giá có thể không phản ánh đúng chất lượng quản lý.
Thực tiễn cho thấy đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng phải xử lý một nghịch lý: địa phương, cơ quan chủ động phát hiện nhiều sai phạm có thể bị nhìn nhận là nơi xảy ra nhiều tham nhũng, trong khi nơi ít phát hiện chưa chắc đã thực hiện tốt hơn. Chính vì vậy, phương pháp đánh giá cần khuyến khích tính chủ động, sự trung thực và kết quả khắc phục hậu quả, thay vì tạo động cơ che giấu hoặc né tránh phát hiện vi phạm.

Nếu thiếu một hệ thống tiêu chí rõ ràng, hoạt động đánh giá dễ phụ thuộc vào mô tả thành tích, số lượng văn bản hoặc nhận định định tính. Ảnh minh hoạ: Huy Trần
Ý nghĩa lớn nhất của Bộ chỉ số không phải tạo thêm một cuộc thi xếp hạng, mà là cung cấp một hệ thống chỉ báo để cơ quan quản lý nhận diện điểm mạnh, điểm yếu trong từng mắt xích của chu trình phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Một đơn vị đạt điểm cao ở khâu xây dựng văn bản nhưng thấp ở khâu phát hiện, xử lý cần được xem xét khác với đơn vị có năng lực phát hiện tốt nhưng chậm khắc phục sau kiểm tra. Phân tích theo cấu phần giúp xác định đúng nguyên nhân và lựa chọn biện pháp cải thiện phù hợp.
Cách tiếp cận quản trị dựa trên kết quả cũng đòi hỏi sử dụng Bộ chỉ số ngay từ đầu kỳ. Cơ quan cần xác định nhiệm vụ phải thực hiện, phân công đầu mối, chuẩn hóa dữ liệu, dự báo rủi ro và theo dõi tiến độ thường xuyên. Nếu đến cuối năm mới thu thập minh chứng, nhiều kết quả có thể thiếu hồ sơ xác thực hoặc không thể kiểm chứng đầy đủ. Do đó, Bộ chỉ số cần được tích hợp vào quy trình điều hành, kiểm tra nội bộ và chế độ báo cáo, chứ không nên vận hành như một nhiệm vụ hành chính độc lập.
Bất kỳ hệ thống chỉ số nào cũng có nguy cơ bị sử dụng theo hướng coi điểm số là mục tiêu cuối cùng. Khi đó, cơ quan có thể tập trung hoàn thiện hồ sơ ở những tiêu chí dễ đạt điểm, trong khi chưa chú trọng đúng mức những vấn đề khó đo lường như chất lượng kiểm soát xung đột lợi ích, tính hiệu quả của phòng ngừa hoặc mức độ chuyển biến trong thực thi công vụ. Mặt khác, việc tăng số lượng cuộc kiểm tra hay văn bản hướng dẫn không đương nhiên chứng minh chất lượng công tác được nâng lên.
Để hạn chế nguy cơ này, cần kết hợp đánh giá số lượng với xem xét chất lượng hồ sơ, tính hợp pháp của quyết định, kết quả thực hiện kiến nghị, mức độ khắc phục tồn tại và khả năng duy trì kết quả. Cơ quan rà soát không chỉ kiểm tra phép cộng điểm, mà cần kiểm tra sự phù hợp giữa kết quả báo cáo với chứng cứ và thông tin từ các nguồn độc lập. Nguyên tắc cốt lõi là điểm số phải phản ánh thực chất, không được thay thế thực chất.
Thứ nhất, dữ liệu phục vụ đánh giá phân tán ở nhiều cơ quan và hệ thống nghiệp vụ: thanh tra, kiểm tra, quản lý cán bộ, tài chính, kiểm soát tài sản, thu nhập, giải quyết tố cáo, xử lý vi phạm và thu hồi tài sản. Các hệ thống có thể khác nhau về thời điểm cập nhật, cách phân loại và đơn vị tính. Nếu không có quy tắc chuẩn hóa, một kết quả có thể bị tính trùng hoặc bị bỏ sót; số liệu giữa các báo cáo có thể không thống nhất.
Thứ hai, ranh giới trách nhiệm giữa cơ quan chủ trì đánh giá và cơ quan cung cấp dữ liệu cần được xác định cụ thể. Đặc biệt, các tiêu chí liên quan đến điều tra, truy tố, xét xử, thu hồi tài sản hoặc nhiệm vụ đặc thù của bộ, ngành đòi hỏi phối hợp liên cơ quan, đồng thời bảo đảm tuân thủ các quy định về bảo mật, cung cấp và sử dụng thông tin. Công văn số 3509/TTCP-C.IV ngày 28/9/2026 của Thanh tra Chính phủ cho thấy ngay trong giai đoạn hoàn thiện dự thảo đã có yêu cầu rà soát cách diễn đạt tiêu chí về phát hiện qua hoạt động điều tra, nhằm xác định chính xác các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Đây là minh chứng cho tầm quan trọng của việc sử dụng thuật ngữ pháp lý đúng thẩm quyền.
Thứ ba, việc áp dụng Bộ chỉ số mới trong năm đầu cần chú ý vấn đề chuyển tiếp. Kỳ dữ liệu được nêu trong tài liệu nghiên cứu bắt đầu từ ngày 15/12 của năm trước và kết thúc ngày 14/12 năm đánh giá, trong khi quyết định có hiệu lực từ ngày 30/9/2026. Điều này đòi hỏi hướng dẫn rõ về dữ liệu được sử dụng, nghĩa vụ có hiệu lực tại từng thời điểm và cách đánh giá những nhiệm vụ chưa được quy định hoặc chưa phát sinh trong một phần kỳ số liệu. Không nên suy diễn việc áp dụng hồi tố các nghĩa vụ pháp lý khi chưa có căn cứ rõ ràng.
Thứ tư, cần thống nhất quy tắc xử lý các tình huống đặc biệt như chỉ tiêu không phát sinh, mẫu số bằng không, thay đổi tổ chức bộ máy, chuyển giao nhiệm vụ hoặc một vụ việc liên quan nhiều cấp quản lý. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật, bởi cách xử lý khác nhau có thể tác động trực tiếp đến kết quả xếp hạng và tính công bằng giữa các cơ quan.

Một cuộc hội thảo của Thanh tra Chính phủ. Ảnh: ND
Trước hết, cần sớm xây dựng hướng dẫn nghiệp vụ thống nhất đối với từng tiêu chí, nhất là cách xác định nhiệm vụ phải thực hiện, hồ sơ minh chứng tối thiểu, cách tính đối với trường hợp không phát sinh và tiêu chí định tính. Hướng dẫn nên kèm ví dụ thực tế và các tình huống thường gặp, bảo đảm cán bộ thực hiện có thể áp dụng thống nhất. Đồng thời, cần phân biệt rõ nội dung được quy định trực tiếp trong quyết định với nội dung mang tính hướng dẫn kỹ thuật, không bổ sung điều kiện hoặc nghĩa vụ ngoài phạm vi văn bản có hiệu lực.
Tiếp theo, mỗi bộ, ngành và địa phương cần xây dựng cơ chế phối hợp nội bộ với một đầu mối tổng hợp chịu trách nhiệm điều phối, nhưng không làm thay trách nhiệm của đơn vị chuyên môn đối với tính chính xác của dữ liệu. Đối với từng tiêu chí, cần xác định rõ cơ quan cung cấp, người kiểm tra, nguồn dữ liệu gốc, thời điểm chốt số liệu và phương thức lưu trữ. Cách làm này giúp chuyển từ tình trạng thu thập báo cáo theo yêu cầu đột xuất sang quản lý hồ sơ minh chứng có hệ thống.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh chuyển đổi số theo hướng xây dựng dữ liệu có cấu trúc, có khả năng truy vết, đối chiếu và phân quyền sử dụng. Ứng dụng công nghệ không nên chỉ dừng ở việc gửi tệp báo cáo điện tử, mà phải hỗ trợ kiểm tra tính hợp lệ của chỉ tiêu, phát hiện dữ liệu bất thường, cảnh báo chậm tiến độ và theo dõi việc thực hiện kiến nghị sau đánh giá. Tuy nhiên, yêu cầu liên thông dữ liệu phải đi đôi với bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và tuân thủ chế độ quản lý tài liệu theo quy định.
Một giải pháp quan trọng khác là tăng cường chất lượng rà soát độc lập và cơ chế phản hồi. Cơ quan có thẩm quyền cần tập trung kiểm tra những tiêu chí có rủi ro sai lệch cao, đối chiếu với kết quả thanh tra, kiểm toán, kiểm tra, xử lý kỷ luật và các nguồn dữ liệu phù hợp. Khi yêu cầu cơ quan tự đánh giá giải trình hoặc đánh giá lại, cần nêu rõ nội dung chưa phù hợp và căn cứ kiểm tra để bảo đảm minh bạch, tạo điều kiện cho việc điều chỉnh chính xác. Kết quả đánh giá nên được phân tích theo nhóm tiêu chí, chỉ ra nguyên nhân và kiến nghị cải thiện, thay vì chỉ công bố tổng điểm.
Đặc biệt, cần coi trọng bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ trực tiếp thực hiện đánh giá. Nội dung bồi dưỡng không chỉ bao gồm quy định pháp luật, cấu trúc Bộ chỉ số và công thức tính điểm, mà còn phải chú trọng kỹ năng xác định căn cứ pháp lý, thiết lập minh chứng, tổng hợp dữ liệu, phát hiện mâu thuẫn số liệu, viết báo cáo giải trình và xử lý tình huống liên ngành. Đối với Trường Cán bộ Thanh tra, đây là cơ sở để cập nhật các chuyên đề về phòng, chống tham nhũng, kiểm soát tài sản, thu nhập, trách nhiệm người đứng đầu, kiểm soát xung đột lợi ích và kỹ năng đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Cuối cùng, cần hình thành cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để cải thiện quản trị. Cơ quan có điểm thấp ở tiêu chí nào phải xây dựng biện pháp khắc phục gắn với thời hạn, đầu mối và sản phẩm cụ thể; cơ quan có kết quả tốt cần được nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm để nhân rộng. Việc sử dụng kết quả trong đánh giá, xếp loại hoặc thi đua, khen thưởng phải bảo đảm đúng quy định và có phân tích bối cảnh, không đồng nhất thứ hạng với toàn bộ chất lượng công tác của một cơ quan. Chính khả năng thúc đẩy thay đổi sau đánh giá mới quyết định giá trị lâu dài của Bộ chỉ số.
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Phương pháp đánh giá cần khuyến khích tính chủ động, sự trung thực và kết quả khắc phục hậu quả, thay vì tạo động cơ che giấu hoặc né tránh phát hiện vi phạm.
TS. Nguyễn Thị Hồng Thúy, Trưởng Khoa Nghiệp vụ 2 - Trường Cán bộ Thanh tra
(Thanh tra) - Mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu rà soát thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nhất là đối với quyết định giải quyết lần đầu của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND cấp xã. Khi quy định về quản lý và giải quyết khiếu nại giao thoa, việc xác định đúng chủ thể có thẩm quyền lần hai trở thành vấn đề cần được làm rõ.
ThS Phạm Hồng Lương, Trường Cán bộ Thanh tra
Nguyễn Thị Hải Yến, Thanh tra viên chính Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ
Bùi Bình
Trọng Tài
Trọng Tài
TS. Nguyễn Thị Hồng Thúy, Trưởng Khoa Nghiệp vụ 2 - Trường Cán bộ Thanh tra
Uyên Phương
Minh Nguyệt
Chu Tuấn
Quang Dân
Nhóm PV Vấn đề trong tuần
Thanh Lương
BTT
Thanh Lương
Phú Đức