Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

Nâng cao hiệu quả kiểm tra, rà soát quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật

Bài 2: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả

TS.Tạ Thu Thuỷ, Vụ Tổ chức cán bộ (Thanh tra Chính phủ)

Chủ nhật, 13/09/2026 - 17:00

(Thanh tra) - Khi số lượng vụ việc cần xem xét ngày càng đa dạng về tính chất, mức độ và hậu quả pháp lý, việc kiểm tra, rà soát không thể chỉ dựa vào tính chất phức tạp, kéo dài của vụ việc.

Điều quan trọng là phải xác định được vụ việc nào thực sự cần kiểm tra, cần kiểm tra đến đâu và kết quả kiểm tra được xử lý như thế nào. Đây là những vấn đề cần được tiếp tục làm rõ để hoạt động kiểm tra, rà soát thực sự đi vào chiều sâu và phát huy hiệu quả.

Cán bộ Ban Tiếp công dân Trung ương nghiên cứu đơn thư. Ảnh: Lan Anh

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn được nêu ở bài 1, nâng cao hiệu quả kiểm tra, rà soát quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật cần đáp ứng một số yêu cầu chủ yếu sau:

Một là, bảo đảm đúng căn cứ, đúng đối tượng và đúng thẩm quyền. Không phải mọi đơn tiếp tục gửi sau khi có quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật đều là căn cứ để kiểm tra, rà soát. Việc lựa chọn vụ việc cần dựa trên căn cứ pháp luật, thông tin hoặc tài liệu mới, dấu hiệu vi phạm hoặc những yếu tố cho thấy cần thiết phải kiểm tra theo thẩm quyền.

Hai là, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với căn cứ phát sinh. Phạm vi kiểm tra cần được xác định trên cơ sở nội dung cần làm rõ. Trường hợp chỉ có dấu hiệu sai sót ở một nội dung thì tập trung kiểm tra nội dung đó; chỉ kiểm tra toàn diện khi có căn cứ cho thấy sai sót có tính hệ thống hoặc có khả năng ảnh hưởng đến toàn bộ kết quả giải quyết.

Ba là, bảo đảm khách quan, toàn diện và cân bằng lợi ích. Kiểm tra phải xem xét quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại đồng thời với quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Việc khắc phục sai sót không được làm phát sinh một sai phạm mới hoặc gây ảnh hưởng bất hợp pháp đến quyền, lợi ích hợp pháp đã được xác lập của chủ thể khác.

Bốn là, gắn kiểm tra với xử lý và xác định trách nhiệm. Kết quả kiểm tra cần làm rõ nội dung nào đúng, nội dung nào còn thiếu sót hoặc có vi phạm; mức độ và nguyên nhân; ảnh hưởng của sai sót, vi phạm đối với kết quả giải quyết; biện pháp xử lý và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Năm là, bảo đảm điểm kết thúc của việc kiểm tra, rà soát. Hiệu quả không chỉ thể hiện ở khả năng phát hiện và kiến nghị xử lý sai sót mà còn ở khả năng kết thúc đúng những vụ việc không có căn cứ tiếp tục xem xét. Sau khi đã kiểm tra đầy đủ và không phát hiện căn cứ mới hoặc sai sót có ảnh hưởng đến kết quả giải quyết, cần thông tin, giải thích rõ cho công dân và tổ chức theo dõi việc chấp hành quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Kiểm tra phải xem xét quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại đồng thời với quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Ảnh: Báo Thanh tra

Để nâng cao hiệu quả kiểm tra, rà soát, trước hết, cần phải nghiên cứu xây dựng tiêu chí thống nhất để lựa chọn và kết thúc kiểm tra, rà soát. Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí thống nhất về lựa chọn vụ việc kiểm tra, rà soát quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.

Bộ tiêu chí nên tập trung vào các nhóm yếu tố: dấu hiệu vi phạm pháp luật; tính mới và giá trị của tài liệu, chứng cứ; khả năng ảnh hưởng đến kết quả giải quyết; mức độ tác động đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên; tính chất liên ngành, liên địa phương; nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh, trật tự; và những yếu tố khác có liên quan. Đồng thời, xác định rõ tiêu chí và điều kiện kết thúc kiểm tra, rà soát, đưa vụ việc ra khỏi diện theo dõi.

Việc công dân tiếp tục gửi đơn không nên là căn cứ duy nhất để xác định vụ việc chưa kết thúc. Cần đánh giá nội dung đơn mới có làm phát sinh căn cứ pháp lý hoặc tình tiết, tài liệu mới có ý nghĩa đối với kết quả giải quyết hay không.

Tiếp đó, nghiên cứu áp dụng phương pháp đánh giá rủi ro trong lựa chọn vụ việc. Một giải pháp có thể nghiên cứu áp dụng là chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu dựa vào tính chất “đông người, phức tạp, kéo dài” sang kết hợp với phương pháp đánh giá rủi ro.

Theo đó, việc đưa một vụ việc vào diện kiểm tra, rà soát cần được xem xét trên cơ sở khả năng xảy ra sai sót, vi phạm pháp luật và mức độ hậu quả có thể phát sinh đối với quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước và xã hội. Có thể nghiên cứu phân loại vụ việc theo bốn mức độ.

Mức độ rủi ro thấp: vụ việc chủ yếu lặp lại nội dung đã được giải quyết, người gửi đơn không cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc tình tiết mới và không xuất hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật. Đối với nhóm này, không nhất thiết mở một quy trình kiểm tra, rà soát mới mà cần trả lời, giải thích, hướng dẫn và tổ chức thực hiện quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo quy định.

Mức độ rủi ro trung bình: vụ việc xuất hiện thông tin, tài liệu hoặc tình tiết mới nhưng chưa đủ cơ sở xác định có sai phạm hoặc chưa chứng minh được khả năng làm thay đổi kết quả giải quyết. Có thể thực hiện kiểm tra sơ bộ thông qua nghiên cứu hồ sơ, đối chiếu tài liệu, yêu cầu cơ quan đã giải quyết báo cáo, giải trình hoặc làm rõ những nội dung còn chưa thống nhất. Kết quả kiểm tra sơ bộ là cơ sở để quyết định có cần kiểm tra, xác minh sâu hơn hay không.

Mức độ rủi ro cao: vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, xác minh, đánh giá chứng cứ hoặc áp dụng pháp luật; hoặc xuất hiện tài liệu, chứng cứ, tình tiết mới có khả năng làm thay đổi kết quả giải quyết. Đây là nhóm cần ưu tiên kiểm tra, rà soát chuyên sâu, trong đó có thể xác minh bổ sung, đối chiếu các nguồn tài liệu và làm việc với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Mức độ rủi ro rất cao: vụ việc có dấu hiệu vi phạm và đồng thời tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại lớn đến tài sản của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều người, lợi ích công cộng hoặc có khả năng tác động đáng kể đến an ninh, trật tự, ổn định xã hội. Đối với nhóm này, cần xem xét cơ chế kiểm tra ở mức độ phù hợp, bảo đảm cơ quan thực hiện có đủ năng lực và thẩm quyền, đồng thời kịp thời báo cáo, xin ý kiến cơ quan có thẩm quyền khi cần thiết.

Phương pháp đánh giá rủi ro không thay thế việc xem xét, đánh giá của cơ quan, người có thẩm quyền mà là công cụ hỗ trợ quá trình sàng lọc và lựa chọn vụ việc. Việc áp dụng phù hợp sẽ góp phần tập trung nguồn lực vào những vụ việc thực sự cần thiết, hạn chế kiểm tra dàn trải và nâng cao chất lượng xử lý.

TS.Tạ Thu Thuỷ, Vụ Tổ chức cán bộ, Thanh tra Chính phủ. Ảnh: Bảo Anh

Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng kiểm tra, xác minh và đánh giá tài liệu, chứng cứ. Chất lượng kiểm tra, rà soát phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng xác minh và đánh giá tài liệu, chứng cứ.

Do đó, cần tập trung kiểm tra những vấn đề có khả năng quyết định tính đúng đắn của quyết định giải quyết khiếu nại, nhất là: thẩm quyền ban hành quyết định; nguồn gốc và quá trình hình thành quyền, lợi ích của các bên; lịch sử pháp lý của vụ việc; tính đầy đủ, khách quan và giá trị chứng minh của tài liệu, chứng cứ; kết quả xác minh và việc thực hiện đối thoại; căn cứ pháp luật được áp dụng tại thời điểm phát sinh vụ việc; sự phù hợp giữa nội dung quyết định với tài liệu, chứng cứ và kết quả xác minh; quá trình tổ chức thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại.

Đối với những nội dung còn có mâu thuẫn hoặc có dấu hiệu chưa được làm rõ, cần tăng cường kiểm chứng độc lập, không chỉ dựa vào hồ sơ do cơ quan đã giải quyết vụ việc lập và cung cấp. Tuy nhiên, việc xác minh bổ sung phải có trọng tâm, tập trung vào những tình tiết có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giải quyết, tránh kéo dài hoặc làm biến dạng mục đích của hoạt động kiểm tra, rà soát.

Một yêu cầu quan trọng khác là phải phân định rõ kết quả kiểm tra và biện pháp xử lý. Kết quả kiểm tra cần được thể hiện theo hướng phân định rõ tình trạng pháp lý của quyết định và biện pháp xử lý tương ứng nhằm giúp tránh tình trạng đồng nhất mọi thiếu sót về thủ tục hoặc nghiệp vụ với vi phạm làm thay đổi kết quả giải quyết, đồng thời bảo đảm việc xử lý tương xứng với tính chất và mức độ của từng trường hợp.

Với trường hợp quyết định giải quyết khiếu nại phù hợp với quy định của pháp luật: Trường hợp kết quả kiểm tra cho thấy quyết định được ban hành đúng thẩm quyền, đúng căn cứ pháp luật, phù hợp với tài liệu, chứng cứ và thực tế vụ việc thì cần khẳng định kết quả kiểm tra, tiếp tục tổ chức thi hành quyết định theo quy định; đồng thời, cần thông tin, giải thích rõ cho người khiếu nại về căn cứ pháp lý và cơ sở thực tế đã được xem xét.

Với trường hợp quyết định có thiếu sót nhưng thiếu sót không làm thay đổi kết quả giải quyết: Trường hợp này cần xác định cụ thể nội dung, mức độ, nguyên nhân và trách nhiệm liên quan để có biện pháp chấn chỉnh, khắc phục phù hợp; trường hợp kết quả giải quyết vẫn bảo đảm đúng pháp luật thì tiếp tục thi hành quyết định.

Với trường hợp phát hiện sai sót, vi phạm có khả năng làm thay đổi kết quả giải quyết: Đây là trường hợp cần xử lý thận trọng, trên cơ sở xác định rõ nội dung, tính chất và hậu quả pháp lý của sai sót, vi phạm; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; đồng thời xác định đúng cơ quan có thẩm quyền và biện pháp xử lý theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu và trách nhiệm sau kiểm tra. Nâng cao hiệu quả kiểm tra, rà soát không chỉ dừng ở việc xác định quyết định giải quyết khiếu nại đúng hay chưa đúng mà còn phải gắn với việc xác định trách nhiệm và bảo đảm thực hiện đầy đủ các biện pháp xử lý sau kiểm tra.

Theo đó, kết luận kiểm tra cần làm rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo tính chất, mức độ và nguyên nhân của sai sót; phân biệt giữa hạn chế khách quan, hạn chế về nghiệp vụ, thiếu trách nhiệm và hành vi vi phạm pháp luật. Việc xác định trách nhiệm phải bảo đảm khách quan, có căn cứ, đúng đối tượng và tương xứng với mức độ vi phạm, tránh quy trách nhiệm chung chung hoặc đồng nhất mọi thiếu sót với vi phạm pháp luật.

Người đứng đầu cơ quan có trách nhiệm thực hiện kết luận cần chịu trách nhiệm về tiến độ và kết quả thực hiện các nội dung thuộc phạm vi quản lý; đồng thời kịp thời báo cáo cơ quan có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền hoặc phát sinh khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.

Nâng cao hiệu quả kiểm tra, rà soát quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật là yêu cầu cần thiết trong thực tiễn hiện nay. Việc thực hiện tốt hoạt động này sẽ góp phần bảo đảm tính đúng đắn, khách quan trong giải quyết khiếu nại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và hạn chế phát sinh các vụ việc khiếu nại phức tạp, kéo dài.

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Bài 2: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả

Bài 2: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả

(Thanh tra) - Khi số lượng vụ việc cần xem xét ngày càng đa dạng về tính chất, mức độ và hậu quả pháp lý, việc kiểm tra, rà soát không thể chỉ dựa vào tính chất phức tạp, kéo dài của vụ việc.

TS.Tạ Thu Thuỷ, Vụ Tổ chức cán bộ (Thanh tra Chính phủ)

17:00 13/09/2026
Bài 1: Thực tiễn và những vấn đề đặt ra

Bài 1: Thực tiễn và những vấn đề đặt ra

(Thanh tra) - Thực tiễn công tác kiểm tra, rà soát các quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật trong thời gian qua đặt ra yêu cầu nhìn nhận đầy đủ hơn về cơ sở, ý nghĩa và những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện đối với hoạt động này.

TS.Tạ Thu Thuỷ, Vụ TCCB (Thanh tra Chính phủ)

09:00 13/09/2026

Tin mới nhất

Xem thêm