Theo dõi Báo Thanh tra trên
TS.Tạ Thu Thuỷ, Vụ TCCB (Thanh tra Chính phủ)
Chủ nhật, 13/09/2026 - 09:00
(Thanh tra) - Thực tiễn công tác kiểm tra, rà soát các quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật trong thời gian qua đặt ra yêu cầu nhìn nhận đầy đủ hơn về cơ sở, ý nghĩa và những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện đối với hoạt động này.
Về nguyên tắc, quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật phải được tôn trọng và thi hành, nhằm bảo đảm tính ổn định của quan hệ pháp lý và hiệu lực quản lý nhà nước. Tuy nhiên, tính ổn định của quyết định không đồng nghĩa với việc loại trừ hoàn toàn khả năng kiểm tra khi xuất hiện căn cứ cho thấy quá trình giải quyết hoặc quyết định giải quyết có sai sót, vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết, tài liệu mới có khả năng ảnh hưởng đến kết quả giải quyết.

Toàn cảnh một buổi tiếp công dân định kỳ tháng 6/2026 của Tổng Thanh tra Nguyễn Quốc Đoàn. Ảnh: D.Trang
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân là yêu cầu xuyên suốt trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Hiến pháp năm 2013 khẳng định Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; đồng thời ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo của mọi người đối với các hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
Quyền khiếu nại không chỉ là một quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo đảm thực hiện mà còn là một phương thức để cá nhân, cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời góp phần kiểm soát hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, bảo đảm việc thực hiện quyền lực nhà nước đúng pháp luật.
Luật Khiếu nại năm 2011, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 136/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền; trình tự, thủ tục giải quyết và việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, kiểm tra, rà soát quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật cần được nhìn nhận là hoạt động kiểm soát có tính chất đặc biệt, được thực hiện trong những trường hợp và phạm vi nhất định, nhằm phát hiện, đánh giá và kiến nghị xử lý những sai sót, vi phạm có căn cứ.
Hoạt động này không nhằm hình thành một cấp giải quyết khiếu nại mới hoặc mở rộng không giới hạn việc xem xét lại các quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Vấn đề đặt ra là phải nâng cao chất lượng, tính chính xác, tính thống nhất và hiệu quả thực chất của kiểm tra, rà soát, đồng thời bảo đảm tính ổn định của quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Nhu cầu này xuất phát từ thực tiễn giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, tồn đọng, kéo dài trong thời gian qua. Các vụ việc thường có quá trình phát sinh kéo dài, liên quan đến nhiều cơ quan, nhiều cấp, nhiều thời kỳ quản lý; trong đó có những vụ việc chịu tác động đồng thời của sự thay đổi chính sách, pháp luật, quá trình đô thị hóa, triển khai dự án và những vấn đề lịch sử để lại.
Từ các kế hoạch của Thanh tra Chính phủ, hoạt động kiểm tra, rà soát đã được triển khai trên diện rộng, với sự phối hợp của các bộ, ngành, địa phương. Đặc biệt, trong năm 2025, cùng với việc tập trung xử lý các vụ việc khiếu kiện phức tạp, kéo dài, vượt cấp lên Trung ương, Thanh tra Chính phủ đã thành lập các tổ công tác rà soát 210 vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp về an ninh, trật tự trên cả nước.
Thực tiễn cho thấy kiểm tra, rà soát đã góp phần làm rõ thêm tình tiết, nội dung vụ việc, đánh giá tính đúng đắn của quá trình và kết quả giải quyết khiếu nại, qua đó kiến nghị khắc phục những thiếu sót, vi phạm được phát hiện, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và nâng cao trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền.
Tuy nhiên, hiệu quả kiểm tra, rà soát giữa các vụ việc và giữa các địa phương chưa đồng đều; tiêu chí lựa chọn vụ việc và phương pháp kiểm tra chưa thật sự thống nhất; chất lượng kiểm tra, xác minh, đánh giá tài liệu, chứng cứ còn khác nhau; việc xác định trách nhiệm và theo dõi, đôn đốc thực hiện kết quả kiểm tra, rà soát ở một số nơi chưa được quan tâm đúng mức.
Vì thế, cần tiếp tục nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm tra, rà soát theo hướng đúng căn cứ, đúng đối tượng, đúng phạm vi, đúng thẩm quyền, có trọng tâm, trọng điểm và gắn với kết quả xử lý. Qua đó, vừa bảo đảm tính ổn định của quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật, vừa tạo cơ chế phù hợp để phát hiện, khắc phục những sai sót, vi phạm.

Các Tổ công tác của Cục I, Thanh tra Chính phủ triển khai đôn đốc, hướng dẫn, phối hợp kiểm tra, rà soát các vụ việc khiếu nại, tố cáo tại các tỉnh, thành phố phía Bắc. Ảnh: Báo Thanh tra
Một là, kiểm tra, rà soát góp phần kiểm soát việc thực hiện quyền lực hành chính.
Giải quyết khiếu nại là hoạt động thực hiện quyền lực hành chính nhà nước, trong đó người có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại và ban hành quyết định giải quyết theo quy định của pháp luật. Khi quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật, quyết định phải được tôn trọng và tổ chức thi hành nhằm bảo đảm tính ổn định của quan hệ pháp lý và hiệu lực quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, hiệu lực pháp luật của quyết định không đồng nghĩa với việc loại trừ mọi khả năng kiểm tra đối với quá trình và kết quả giải quyết khi xuất hiện căn cứ phù hợp. Trong Nhà nước pháp quyền, việc thực hiện quyền lực nhà nước phải được đặt trong khuôn khổ pháp luật và chịu sự kiểm soát. Đối với hoạt động giải quyết khiếu nại, yêu cầu này thể hiện thông qua việc tuân thủ quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, xác minh, đối thoại, thu thập và đánh giá tài liệu, chứng cứ và áp dụng pháp luật.
Khi có căn cứ cho thấy quá trình giải quyết hoặc quyết định giải quyết có dấu hiệu sai sót, vi phạm pháp luật hoặc xuất hiện tình tiết, tài liệu mới có khả năng ảnh hưởng đến kết quả giải quyết, việc kiểm tra, rà soát theo thẩm quyền là cần thiết.
Theo đó, kiểm tra, rà soát là một phương thức góp phần kiểm soát việc thực hiện quyền lực hành chính, bảo đảm quyết định được ban hành và thực hiện phù hợp với pháp luật; không phải là một cấp giải quyết khiếu nại mới và cũng không nhằm phủ nhận một cách tùy tiện hiệu lực của quyết định đã ban hành.
Hai là, kiểm tra, rà soát góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
Chất lượng giải quyết khiếu nại có quan hệ trực tiếp với việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại và các chủ thể có liên quan. Thực tiễn cho thấy nhiều vụ việc liên quan trực tiếp đến đất đai, nhà ở, tài sản, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, chính sách xã hội... Nếu quá trình giải quyết có sai sót trong xác minh, đánh giá chứng cứ hoặc áp dụng pháp luật thì việc duy trì kết quả giải quyết không phù hợp có thể tiếp tục ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời làm phát sinh khiếu nại kéo dài, vượt cấp.
Trong những trường hợp có căn cứ cần thiết, kiểm tra, rà soát vì vậy có ý nghĩa trong việc phát hiện và kiến nghị khắc phục sai sót, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nâng cao trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền và góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân. Tuy nhiên, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp không đồng nghĩa với việc xem xét lại quyết định đã có hiệu lực pháp luật một cách không giới hạn. Hiệu quả của cơ chế này phải được thể hiện ở khả năng nhận diện đúng những trường hợp cần kiểm tra, xử lý đúng những vấn đề có căn cứ và xác định rõ điểm kết thúc đối với những vụ việc không có cơ sở tiếp tục xem xét.
Ba là, kiểm tra, rà soát phải hài hòa giữa yêu cầu ổn định và yêu cầu khắc phục sai sót.
Tính ổn định của quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, sự ổn định của quan hệ pháp lý và hiệu lực quản lý nhà nước. Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa tính ổn định đến mức không xem xét trong trường hợp có căn cứ rõ ràng về sai sót, vi phạm thì có thể dẫn đến việc duy trì kết quả giải quyết không phù hợp pháp luật. Vì vậy, kiểm tra, rà soát cần được thực hiện trên cơ sở căn cứ rõ ràng, trong phạm vi cần thiết và theo thẩm quyền.
Phạm vi kiểm tra phải phù hợp với căn cứ làm phát sinh việc rà soát; kết quả kiểm tra phải gắn với biện pháp xử lý và trách nhiệm cụ thể. Theo đó, hiệu quả kiểm tra, rà soát không nên được đánh giá chủ yếu bằng số lượng vụ việc được đưa ra kiểm tra mà bằng chất lượng nhận diện vấn đề, tính chính xác của kết luận, khả năng khắc phục sai sót, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên và khả năng hạn chế việc phát sinh khiếu nại tiếp theo.

Một buổi tiếp công dân của tỉnh Đồng Tháp. Ảnh: Báo Thanh tra
Pháp luật về khiếu nại đã đặt ra trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc kiểm tra, xem xét quyết định hành chính, hành vi hành chính và trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.
Nghị định số 124 ngày 19/10/2020 quy định trách nhiệm của người giải quyết khiếu nại trong việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật; đồng thời quy định việc xem xét, giải quyết khiếu nại khi phát hiện có vi phạm pháp luật. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc kiểm tra, xem xét khi xuất hiện dấu hiệu vi phạm.
Từ ngày 1/7/2026, Nghị định số 155/2026 tiếp tục sửa đổi, bổ sung một số quy định của Nghị định số 124, trong đó có quy định liên quan đến xem xét việc giải quyết khiếu nại có vi phạm pháp luật.
Cụ thể là, khi phát hiện việc giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu người có thẩm quyền hoặc giao Tổng Thanh tra Chính phủ kiểm tra, báo cáo Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo giải quyết.
Khi phát hiện việc giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thuộc bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc cơ quan ngang bộ có vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ yêu cầu người có thẩm quyền hoặc giao Thủ trưởng cơ quan trực thuộc phù hợp kiểm tra, báo cáo Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chỉ đạo giải quyết.
Khi phát hiện việc giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp xã có vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, Chủ tịch UBND cấp tỉnh yêu cầu người có thẩm quyền hoặc giao thủ trưởng cơ quan trực thuộc phù hợp kiểm tra, báo cáo Chủ tịch UBND cấp tỉnh chỉ đạo giải quyết.
Việc sửa đổi, bổ sung này góp phần làm rõ hơn trách nhiệm kiểm tra, xem xét việc giải quyết khiếu nại khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đây là điều kiện thuận lợi để tiếp tục nâng cao hiệu quả kiểm tra, rà soát.
Tuy nhiên, từ thực tiễn tổ chức thực hiện vẫn đặt ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu, cụ thể hóa tiêu chí lựa chọn vụ việc, phạm vi kiểm tra, phương pháp kiểm tra, trách nhiệm xử lý kết quả và cơ chế theo dõi sau kiểm tra, phù hợp với thẩm quyền và quy định pháp luật.
Kế hoạch số 1130 năm 2012 là một dấu mốc quan trọng khi Thanh tra Chính phủ tập trung rà soát 528 vụ việc, trong đó có 422 vụ việc liên quan đến đất đai.
Kế hoạch số 2100 năm 2013 tiếp tục chú trọng việc theo dõi tiến độ và từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu chung về khiếu nại, tố cáo. Kế hoạch số 363 năm 2019 tiếp tục tập trung vào các vụ việc đông người, phức tạp, kéo dài, gắn với sự tham gia của các bộ, ngành, địa phương và cơ quan Trung ương có liên quan.
Đến năm 2025, hoạt động kiểm tra, rà soát tiếp tục được triển khai theo Kế hoạch số 96 ngày 28/3/2025 và các nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao. Việc tổ chức các tổ công tác Trung ương phối hợp với địa phương cho thấy yêu cầu kết hợp giữa trách nhiệm kiểm tra, hướng dẫn ở Trung ương với trách nhiệm giải quyết và tổ chức thực hiện tại địa phương.
Việc rà soát 210 vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp về an ninh, trật tự trong năm 2025 cũng cho thấy kiểm tra, rà soát có ý nghĩa không chỉ trong bảo đảm pháp luật mà còn trong phòng ngừa nguy cơ phát sinh điểm nóng và góp phần bảo đảm an ninh, trật tự.
Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn triển khai cho thấy một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.
Một là, hoạt động kiểm tra, rà soát ở một số trường hợp còn phụ thuộc nhiều vào kế hoạch hoặc chỉ đạo của cấp có thẩm quyền, trong khi tiêu chí lựa chọn vụ việc chưa thật sự thống nhất. Tính chất “đông người, phức tạp, kéo dài” thường được sử dụng như một căn cứ quan trọng, nhưng chưa phản ánh đầy đủ khả năng tồn tại sai sót pháp lý hoặc mức độ rủi ro của từng vụ việc.
Hai là, chưa có tiêu chí đầy đủ, thống nhất để xác định thời điểm kết thúc kiểm tra, rà soát và đưa vụ việc ra khỏi danh sách theo dõi. Trên thực tế, có trường hợp đã được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, rà soát, xử lý theo quy định nhưng công dân vẫn tiếp tục gửi đơn đến nhiều cơ quan khác nhau.
Việc tiếp tục gửi đơn không đương nhiên đồng nghĩa với việc vụ việc còn nội dung cần kiểm tra, rà soát. Vì vậy, cần phân biệt giữa việc công dân tiếp tục thực hiện quyền gửi đơn với việc xuất hiện căn cứ pháp lý mới làm phát sinh yêu cầu kiểm tra, rà soát.
Ba là, chất lượng kiểm tra, xác minh và đánh giá tài liệu, chứng cứ giữa các vụ việc, địa phương chưa đồng đều. Một số trường hợp việc kiểm tra còn chủ yếu dựa trên hồ sơ do cơ quan đã giải quyết vụ việc lập, chưa làm rõ đầy đủ lịch sử pháp lý, nguồn gốc tài sản, quá trình xác minh hoặc những tài liệu, chứng cứ có mâu thuẫn.
Bốn là, phạm vi kiểm tra ở một số trường hợp chưa được xác định tương xứng với căn cứ làm phát sinh việc kiểm tra. Nếu kiểm tra dàn trải toàn bộ quá trình giải quyết trong khi chỉ có một vấn đề cần làm rõ sẽ làm tăng thời gian, nguồn lực và nguy cơ biến hoạt động kiểm tra, rà soát thành việc giải quyết lại vụ việc.
Năm là, việc xác định trách nhiệm và theo dõi thực hiện kết quả kiểm tra chưa phải lúc nào cũng được quan tâm tương xứng. Một kết luận kiểm tra chỉ có giá trị thực chất khi các kiến nghị, yêu cầu khắc phục được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn và có cơ chế xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền.
Sáu là, dữ liệu về quá trình giải quyết một vụ việc còn phân tán tại nhiều cơ quan, đơn vị và nhiều cấp khác nhau. Việc thiếu dữ liệu đầy đủ, được số hóa và liên thông phù hợp làm tăng thời gian thu thập, đối chiếu thông tin, đồng thời hạn chế khả năng nhận diện sớm những vụ việc có dấu hiệu rủi ro.
Từ đó cho thấy hiệu quả kiểm tra, rà soát không chỉ phụ thuộc vào quy định pháp luật mà còn chịu tác động của chất lượng phân loại vụ việc, phương pháp lựa chọn và đánh giá rủi ro, chất lượng xác minh, phạm vi kiểm tra, cơ chế phối hợp, dữ liệu và trách nhiệm thực hiện sau kiểm tra.
Thực tiễn trên cho thấy, kiểm tra, rà soát quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật là hoạt động cần thiết nhưng phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, có căn cứ và có giới hạn rõ ràng. Vấn đề không chỉ là phát hiện sai sót, vi phạm mà quan trọng hơn là xác định đúng trường hợp cần kiểm tra, phạm vi cần kiểm tra và cách thức xử lý phù hợp. Đây cũng là cơ sở để xác định những yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả kiểm tra, rà soát trong thời gian tới.
Bài 2: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Thực tiễn công tác kiểm tra, rà soát các quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật trong thời gian qua đặt ra yêu cầu nhìn nhận đầy đủ hơn về cơ sở, ý nghĩa và những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện đối với hoạt động này.
TS.Tạ Thu Thuỷ, Vụ TCCB (Thanh tra Chính phủ)
(Thanh tra) - Trong trường hợp phát hiện việc giải quyết khiếu nại có vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân thì vẫn có cơ chế để kiểm tra, rà soát và chỉ đạo giải quyết. Đây là một cơ chế đặc biệt nhưng cần thiết.
TS.Đinh Văn Minh, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế (TTCP)
Minh Nghĩa
Thanh Nhung
ThS Phạm Hồng Lương, Ngô Thị Thanh Nga, Trường Cán bộ Thanh tra
Trung Hà
TS.Tạ Thu Thuỷ, Vụ TCCB (Thanh tra Chính phủ)
Trung Hà
Trung Hà
Theo Chinhphu.vn
Theo Chinhphu.vn
Theo Chinhphu,vn
Thanh Lương
Thanh Lương
Theo Chinhphu.vn
Văn Thanh
Song Việt