Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

Hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam

Cục trưởng Cục Công nghiệp: Làm chủ các khâu nền tảng để nâng tầm công nghiệp Việt

Hoàng Hưng (Thực hiện)

Thứ sáu, 03/04/2026 - 08:34

(Thanh tra) - Công nghiệp Việt Nam cần chuyển từ phát triển theo ngành hẹp sang tiếp cận theo chuỗi giá trị và hệ sinh thái, trong đó trọng tâm là từng bước làm chủ các khâu nền tảng như vật liệu, công nghệ lõi và linh kiện nguồn, thay vì chỉ dừng ở lắp ráp hay khâu cuối.

Khi công nghiệp tiếp tục được xác định là trụ cột của mô hình tăng trưởng theo Nghị quyết Đại hội XIV, yêu cầu đặt ra không chỉ là "đi nhanh", mà còn phải nâng cao tính tự chủ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Báo Thanh tra đã trao đổi với ông Trần Việt Hòa, Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương), nhằm làm rõ các định hướng chính sách, giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn, nâng cao năng lực nội sinh của nền sản xuất, cũng như vai trò của cơ quan quản lý trong việc đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.

- PV: Thưa ông, với thực trạng hiện nay khi tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo mới đạt khoảng 24,5% GDP, đâu là những thách thức lớn nhất mà ngành Công nghiệp cần vượt qua để tiến tới mục tiêu 28% vào năm 2030?

+ Ông Trần Việt Hòa: Trước hết phải nói rất rõ rằng, từ mức khoảng 24,5 - 24,7% GDP hiện nay lên khoảng 28% GDP vào năm 2030 là một bước nhảy lớn. Đại hội XIV đã xác định mục tiêu đến năm 2030 nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; như vậy, tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo không còn là chỉ tiêu riêng của ngành, mà là một chỉ tiêu có ý nghĩa chiến lược của cả nền kinh tế. Theo tính toán sơ bộ của Cục Công nghiệp, để đạt mục tiêu đó, công nghiệp chế biến, chế tạo phải duy trì tốc độ tăng trưởng xấp xỉ hơn 12%/năm trong giai đoạn 2026 - 2030.

Thách thức lớn nhất hiện nay, theo tôi, nằm ở một số điểm chính như sau: Một là, tăng trưởng của ta vẫn phụ thuộc khá lớn vào khu vực FDI; năm 2025 khu vực FDI chiếm khoảng 77,3% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, cho thấy năng lực nội sinh của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế.

Hai là, tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, mới khoảng 36,6%; nhiều ngành như điện tử, ô tô, cơ khí vẫn phụ thuộc lớn vào linh kiện và nguyên liệu nhập khẩu.

Ba là, hành lang pháp lý cho công nghiệp trọng điểm, công nghiệp hỗ trợ, nội địa hóa và đặt hàng công nghiệp trong nước vẫn chưa thật sự đồng bộ.

Bốn là, bối cảnh bên ngoài đang biến động nhanh với các diễn biến bất thường, khó lường. Ví dụ điển hình là gần đây Mỹ đã khởi động các cuộc điều tra Section 301 mới đối với tình trạng dư thừa công suất trong sản xuất, trong đó có nêu Việt Nam; căng thẳng ở Trung Đông đang làm đứt gãy vận tải biển, gây áp lực lên chi phí năng lượng và logistics; từ ngày 1/1/2026, cơ chế CBAM của EU bước vào giai đoạn thực thi chính thức, buộc doanh nghiệp phải đáp ứng cao hơn về phát thải, truy xuất và năng lực quản trị chuỗi cung ứng.

Năm là mô hình quản trị và tính tuân thủ trong các khâu thực thi chưa hợp lý, nguồn lực phân bổ chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao

- PV: Từ yêu cầu của lãnh đạo Chính phủ, Bộ Công Thương về việc đánh giá toàn diện thực trạng ngành Công nghiệp, Cục Công nghiệp đang tiếp cận việc xây dựng kịch bản tăng trưởng và mô hình phát triển như thế nào để bảo đảm tính khả thi và sát với năng lực từng lĩnh vực?

+ Ông Trần Việt Hòa: Các kịch bản tăng trưởng và mô hình phát triển công nghiệp phải nằm trong kịch bản tăng trưởng và mô hình phát triển kinh tế xã hội và ngành Công Thương, có sự liên kết chặt chẽ, tác động tương hỗ đối với các ngành, lĩnh vực.

Đại hội XIV đã xác định mục tiêu đến năm 2030 nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; như vậy, tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo không còn là chỉ tiêu riêng của ngành, mà là một chỉ tiêu có ý nghĩa chiến lược của cả nền kinh tế.

Xuất phát từ quan điểm trên, Cục Công nghiệp triển khai phân tích theo các trụ cột, theo từng lĩnh vực, chuỗi giá trị, dự án có khả năng tạo năng lực sản xuất mới. Trên cơ sở đó, Cục nghiên cứu xây dựng bộ chỉ tiêu cụ thể cho giai đoạn 2026 - 2030 với kịch bản GDP tăng từ 10% trở lên, IIP tăng 11 - 12%/năm, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12 - 13%/năm và nâng tỷ trọng chế biến, chế tạo từ 25,2% năm 2026 lên 28% năm 2030.

Điểm quan trọng là mô hình này không chỉ nhìn vào mục tiêu tăng trưởng, mà còn tính đến điều kiện để tăng trưởng có thể xảy ra, như tổng đầu tư xã hội, ICOR, giải ngân đầu tư công, tiến độ dự án lớn, tỷ lệ nội địa hóa, và khả năng hình thành năng lực sản xuất mới.

Tóm lại, Cục Công nghiệp đang tiếp cận theo hướng: Ngành nào có thị trường, có doanh nghiệp dẫn dắt, có dự án lớn và có khả năng kéo theo công nghiệp hỗ trợ thì ưu tiên thành “đầu kéo”; ngành nào đang phụ thuộc nhập khẩu lớn thì tập trung giải quyết khâu thượng nguồn phù hợp với tinh thần phát triển nhanh nhưng phải bền vững, lấy điểm đột phá là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

- PV: Để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, theo ông, những nhóm giải pháp ngắn hạn nào cần được ưu tiên triển khai ngay nhằm khắc phục các điểm nghẽn hiện nay, đặc biệt là vấn đề phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài và hạn chế về năng lực nội tại?

+ Ông Trần Việt Hòa: Theo tôi, trong ngắn hạn cần ưu tiên các nhóm trọng tâm sau đây: Thứ nhất, khắc phục tình trạng phân mảnh về đầu mối quản lý, phân tán nguồn lực; trước hết là ở khâu quản lý nhà nước.

Thứ hai, phải tháo gỡ ngay cho các dự án công nghiệp quy mô lớn có thể đi vào triển khai hoặc tăng công suất trong giai đoạn 2026 - 2030, vì đây là nguồn đóng góp trực tiếp nhất cho tăng trưởng

Thứ ba, phải đẩy nhanh các cơ chế thúc đẩy doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, nhất là ở các ngành điện tử, ô tô, cơ khí, dệt may và vật liệu...

Thứ tư, phải giảm phụ thuộc đầu vào nhập khẩu bằng cách phát triển vật liệu, linh kiện nguồn như nhựa kỹ thuật, sợi, vải, da thuộc, thép chất lượng cao, HRC, linh kiện cơ khí chính xác...

Thứ năm, phải chủ động ứng phó rủi ro bên ngoài bằng đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, nguồn cung nguyên liệu và tuyến logistics.

Song song với thúc đẩy sản xuất, chúng ta phải đồng thời làm tốt các hoạt động xuất xứ hàng hóa, truy xuất nguồn gốc, chuẩn hóa phát thải, giảm chi phí logistics và hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn mới của thị trường nhập khẩu. Tôi cho rằng đây là nhóm giải pháp ngắn hạn nhưng có ý nghĩa quyết định đối với sức chống chịu của công nghiệp Việt Nam.

- PV: Ở góc độ dài hạn, việc hoàn thiện định hướng chiến lược, xác định các trụ cột và ngành Công nghiệp nền tảng sẽ được Cục Công nghiệp cụ thể hóa ra sao, nhất là trong phát triển chuỗi giá trị và nâng cao giá trị gia tăng của các ngành như vật liệu, luyện kim, công nghiệp hỗ trợ?

+ Ông Trần Việt Hòa: Về dài hạn, định hướng của Cục là chuyển từ tư duy phát triển theo ngành hẹp sang tư duy phát triển theo chuỗi giá trị và hệ sinh thái công nghiệp. Nói cách khác, không chỉ phát triển khâu lắp ráp hay khâu cuối cùng, mà phải từng bước hình thành năng lực ở các khâu nền tảng như vật liệu, luyện kim, linh kiện nguồn, thiết kế, công nghệ lõi, tiêu chuẩn và dịch vụ kỹ thuật công nghiệp. Trọng tâm sẽ là một số cụm trụ cột: Khoáng sản - luyện kim - vật liệu chiến lược; cơ khí chế tạo, trong đó có cơ khí đường sắt, thiết bị điện, cơ khí cho điện gió ngoài khơi; ô tô và xe điện; điện tử - bán dẫn; và công nghiệp hỗ trợ cho các ngành xuất khẩu chủ lực.

Với từng trụ cột, Cục đang định hình rất cụ thể. Ví dụ, với khoáng sản - luyện kim là đẩy mạnh chế biến sâu bô-xít, alumin, nhôm, đất hiếm, titan, niken, thép chất lượng cao; với ô tô và cơ khí là đi vào pin, điện tử công suất, phần mềm điều khiển, cụm linh kiện xe điện, đầu máy, toa xe, thiết bị năng lượng; với công nghiệp hỗ trợ là hình thành doanh nghiệp hạt nhân, nâng cấp 1.000 - 2.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Mục tiêu cuối cùng là tăng phần giá trị giữ lại trong nước, chứ không chỉ tăng kim ngạch hay tăng sản lượng.

- Trong bối cảnh yêu cầu đồng bộ hóa hệ thống cơ chế, chính sách và gắn khoa học - công nghệ với sản xuất, Cục Công nghiệp sẽ có những đề xuất gì để bảo đảm các chính sách thực sự đi vào thực tiễn, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho ngành công nghiệp?

+ Ông Trần Việt Hòa: Theo tôi, muốn chính sách đi vào thực tiễn thì trước hết chính sách phải đi từ nhu cầu sản xuất thực tế của doanh nghiệp, của thị trường và của chuỗi cung ứng. Vì vậy, Cục Công nghiệp đang tập trung vào một số đề xuất lớn: Nghiên cứu xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm; đề xuất cơ chế đặt hàng đối với sản phẩm công nghiệp nền tảng, sản phẩm lần đầu sản xuất trong nước; hoàn thiện cơ chế nội địa hóa gắn với ưu đãi; xây dựng chính sách thu hút FDI có điều kiện, tức là đi kèm cam kết về R&D, chuyển giao công nghệ, sử dụng nhà cung ứng trong nước và đào tạo nhân lực Việt Nam. Đây là những công cụ rất quan trọng để biến mục tiêu “phát triển công nghiệp” thành năng lực sản xuất thực tế của nền kinh tế.

Cùng với đó, khoa học - công nghệ phải được đặt đúng vào chuỗi giá trị công nghiệp với tinh thần lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính cho mô hình tăng trưởng mới. Do đó, Cục đang theo hướng đề xuất các nhiệm vụ khoa học - công nghệ bám thẳng vào công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và chuyển giao vào doanh nghiệp, thay vì chỉ dừng ở nghiên cứu tách rời sản xuất. Tôi cho rằng, khi chính sách, khoa học - công nghệ và thị trường được thiết kế đồng bộ, thì công nghiệp mới có thể tăng nhanh nhưng vẫn bền vững và tự chủ hơn.

- PV: Từ góc độ quản lý nhà nước, ông đánh giá như thế nào về những vướng mắc trong quá trình tổ chức thực thi các chính sách phát triển công nghiệp hiện nay? Cục Công nghiệp sẽ có những giải pháp gì để tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao tính minh bạch và hiệu quả triển khai chính sách trong thời gian tới?

+ Ông Trần Việt Hòa: Vướng mắc lớn nhất hiện nay, theo tôi, không chỉ nằm ở việc thiếu chính sách, mà còn ở khâu tổ chức thực hiện. Có những lĩnh vực đang bị phân tán đầu mối quản lý, chồng lấn thẩm quyền giữa các bộ, ngành và địa phương, khiến tiến độ xử lý thủ tục kéo dài, doanh nghiệp tăng chi phí tuân thủ, còn cơ quan quản lý thì khó quy trách nhiệm đến cùng. Nghiên cứu của Cục chỉ ra khá rõ những điểm nghẽn này trong các lĩnh vực như khoáng sản, thực phẩm, công nghệ cao, khu công nghiệp và phối hợp nội bộ theo chuỗi giá trị. Nếu không xử lý tốt khâu thực thi, thì chủ trương đúng cũng rất khó tạo ra kết quả thật.

Trong thời gian tới, tôi cho rằng cần làm mạnh 3 việc. Thứ nhất, tiếp tục rà soát để phân công rõ một việc - một đầu mối chủ trì - một đầu mối chịu trách nhiệm chính; đi kèm cơ chế phối hợp và thời hạn xử lý cụ thể.

Thứ hai, tăng minh bạch trong thực thi thông qua cơ sở dữ liệu ngành, theo dõi tiến độ dự án, công khai tiêu chí lựa chọn, giám sát hậu kiểm và đánh giá kết quả theo sản phẩm đầu ra.

Thứ ba, gắn trách nhiệm tổ chức thực hiện với kỷ luật, kỷ cương hành chính, nhất là trách nhiệm người đứng đầu. Đây cũng là yêu cầu rất phù hợp với Chương trình hành động của Chính phủ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV, trong đó nhấn mạnh tinh thần kỷ cương, hành động, đổi mới, đột phá và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

- PV: Trân trọng cảm ơn ông!

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Cục trưởng Cục Công nghiệp: Làm chủ các khâu nền tảng để nâng tầm công nghiệp Việt

Cục trưởng Cục Công nghiệp: Làm chủ các khâu nền tảng để nâng tầm công nghiệp Việt

(Thanh tra) - Công nghiệp Việt Nam cần chuyển từ phát triển theo ngành hẹp sang tiếp cận theo chuỗi giá trị và hệ sinh thái, trong đó trọng tâm là từng bước làm chủ các khâu nền tảng như vật liệu, công nghệ lõi và linh kiện nguồn, thay vì chỉ dừng ở lắp ráp hay khâu cuối.

Hoàng Hưng (Thực hiện)

08:34 03/04/2026

Tin mới nhất

Xem thêm