Theo dõi Báo Thanh tra trên
Lê Hữu Chính
Thứ bảy, 31/10/2026 - 17:00
(Thanh tra) - Tạo lập được kho dữ liệu di sản chuẩn mực mới chỉ là điều kiện cần. Bài toán thực tiễn đặt ra cho các nhà quản lý và giới chuyên gia là phải tháo gỡ điểm nghẽn thể chế: Ai là chủ sở hữu, những chủ thể nào có quyền tiếp cận khai thác và mô hình kinh tế nào giúp thương mại hóa dữ liệu di sản một cách hợp pháp mà không làm méo mó các giá trị cốt lõi.
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lê Minh Tuấn điều hành phiên hội thảo. Ảnh: BTC
Thực tiễn chuyển đổi số tại nhiều địa phương thời gian qua bộc lộ một nghịch lý lớn: Nguồn lực Nhà nước đầu tư rất nhiều kinh phí để quét ảnh, scan tài liệu và dựng hình 3D hiện vật, nhưng khi dự án kết thúc, kho dữ liệu ấy hầu như bị đóng băng trong các ổ cứng máy chủ nội bộ. Dữ liệu số không được đưa vào lưu thông kinh tế, doanh nghiệp sáng tạo và các nghệ nhân làng nghề không thể tiếp cận, trong khi ngân sách vẫn phải chi trả định kỳ để duy trì hạ tầng kỹ thuật.

Chuyên gia tham luận tại Hội thảo về văn hóa của tỉnh Quảng Trị. Ảnh: BTC
Nhằm phá vỡ rào cản này, tại phiên Hội thảo khoa học và tham vấn chuyên gia số 2 với chủ đề “Mô hình kinh tế, thương mại hóa tài sản số, sở hữu trí tuệ và huy động nguồn lực” diễn ra ngày 14/10, phát biểu đề dẫn phiên làm việc, ông Lê Minh Tuấn, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh thẳng thắn nhìn nhận, số hóa di sản mới chỉ là bước tạo lập tài nguyên thô. Nếu quyền và trách nhiệm không được xác định minh bạch, cơ chế quản lý tài sản công không phù hợp thì kho dữ liệu ấy không thể tự động sinh ra giá trị kinh tế.
Để trả lời câu hỏi ai có quyền khai thác, Đề án đang nghiên cứu phân định rõ hai tầng quyền cơ bản: Nhà nước đại diện chủ sở hữu đối với toàn bộ dữ liệu di sản văn hóa công, còn doanh nghiệp công nghệ, cơ sở làng nghề và người dân được trao quyền sử dụng hợp pháp theo các điều kiện minh bạch. Trao đổi về định hướng này, PGS.TS Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cùng các chuyên gia đồng chủ trì hội thảo thống nhất rằng, mục tiêu của địa phương không phải là thương mại hóa di sản bằng mọi giá, mà là tìm kiếm cơ chế đưa tài sản số vào đời sống một cách bền vững và bảo vệ quyền lợi cộng đồng.
Để dữ liệu số có thể tham gia vào các giao dịch kinh tế, vấn đề có ý nghĩa bản lề đang được các cơ quan chuyên môn đề xuất là ghi nhận dữ liệu văn hóa như một dạng tài sản công vô hình vào sổ kế toán nhà nước.
Đại diện Cục Quản lý công sản phân tích, nếu thiếu căn cứ định danh tài sản vô hình, cơ quan quản lý sẽ không có cơ sở pháp lý để định giá hay cho phép bên thứ ba khai thác theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công. Do đó, phương án tham vấn là phân chia kho dữ liệu thành hai lớp rõ rệt: Lớp dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước và tra cứu công cộng sẽ được cung cấp phi thương mại; trong khi lớp tài sản dữ liệu có giá trị kinh tế như bản quét 3D chi tiết, hoa văn cổ, bộ tiêu chí Cultural DNA sẽ được quản lý theo chế độ tài sản để tính toán cấp quyền khai thác thương mại.
Về phương thức khai thác, các chuyên gia tài chính và đại diện Cục Quản lý giá đã thảo luận về tính khả thi của mô hình biểu mức thu ba tầng. Tầng thứ nhất là tiền cấp quyền sử dụng cơ sở, được xác định qua hình thức đấu giá công khai hoặc đàm phán cạnh tranh. Tầng thứ hai là mức thu cố định tối thiểu có bảo đảm nhằm bù đắp chi phí duy trì hệ thống máy chủ và bảo đảm an toàn dữ liệu. Tầng thứ ba là cơ chế chia sẻ doanh thu bổ sung theo tỷ lệ phần trăm khi sản phẩm thương mại của doanh nghiệp đạt doanh thu vượt ngưỡng cam kết.
Các nhà khoa học kinh tế đánh giá, đây là một đề xuất phương án giàu tính mở: Vừa hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp và làng nghề tiếp cận nguồn dữ liệu chuẩn với chi phí ban đầu hợp lý, vừa giúp ngân sách địa phương thu hồi được giá trị tăng thêm để tái đầu tư.
Trong bối cảnh bùng nổ của công nghệ, câu hỏi về quyền khai thác càng trở nên cấp bách khi các tập đoàn công nghệ thu thập dữ liệu di sản để huấn luyện các thuật toán trí tuệ nhân tạo (AI training). Tham luận tại hội thảo, đại diện Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) nhấn mạnh, ranh giới giữa quyền chủ sở hữu Nhà nước đối với dữ liệu di sản gốc và quyền sở hữu đối với sản phẩm phái sinh do doanh nghiệp tạo ra cần phải được làm rõ bằng các hợp đồng bản quyền mẫu. Việc mở rộng khai thác công nghệ mới dứt khoát không thể tách rời trách nhiệm bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan của các chủ thể sáng tạo.

Ông Lê Minh Tuấn, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị tại hội thảo. Ảnh: BTC
Đối với việc ứng dụng dữ liệu huấn luyện trí tuệ nhân tạo, các nhà khoa học kiến nghị tỉnh Quảng Trị cần xây dựng quy chế quản trị dữ liệu chặt chẽ nhằm bảo vệ chủ quyền văn hóa số. Mọi tổ chức muốn khai thác kho tài nguyên số của địa phương để huấn luyện AI đều phải tuân thủ điều kiện cấp phép và có nghĩa vụ chia sẻ lợi ích kinh tế.
GS.TS Trung tướng Trần Vi Dân và các chuyên gia văn hóa đặc biệt lưu ý nguyên tắc: Thương mại hóa tài sản số văn hóa không đồng nghĩa với thương mại hóa di sản bằng mọi giá. Khai thác thương mại phải bảo tồn tính nguyên gốc, đồng thời phải thiết lập cơ chế trích lập một phần nguồn thu từ bản quyền để phân bổ lại cho chính các cộng đồng, nghệ nhân nơi đang lưu giữ di sản gốc.
Phát biểu chỉ đạo tại hội thảo, ông Hoàng Xuân Tân, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị khẳng định các cơ chế ghi nhận tài sản vô hình, biểu mức thu ba tầng hay hợp đồng bản quyền dữ liệu AI hiện là những phương án được chuyên gia đề xuất phục vụ xây dựng Đề án. Tuy vậy, việc nhận diện trúng các điểm nghẽn thể chế đã vạch ra con đường khai thác mạch lạc. Khi cơ chế và đối tượng khai thác đã rõ, vấn đề còn lại là: Tỉnh Quảng Trị sẽ cần đầu tư bao nhiêu nguồn lực, hiệu quả kinh tế - xã hội được đo lường thực chất đến đâu và bộ máy nào chịu trách nhiệm thực thi?
Bài 3: Đo lường tác động GRDP và huy động nguồn lực: Hiện thực hóa khát vọng công nghiệp văn hóa Quảng Trị
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Tạo lập được kho dữ liệu di sản chuẩn mực mới chỉ là điều kiện cần. Bài toán thực tiễn đặt ra cho các nhà quản lý và giới chuyên gia là phải tháo gỡ điểm nghẽn thể chế: Ai là chủ sở hữu, những chủ thể nào có quyền tiếp cận khai thác và mô hình kinh tế nào giúp thương mại hóa dữ liệu di sản một cách hợp pháp mà không làm méo mó các giá trị cốt lõi.
Lê Hữu Chính
(Thanh tra) - Số hóa di sản không chỉ đơn giản là đem máy quét ảnh chụp lại hiện vật đưa lên không gian mạng, mà đòi hỏi lời giải rốt ráo từ giới chuyên môn cho hai câu hỏi căn cốt: Tỉnh Quảng Trị sẽ số hóa những gì và thực hiện bằng phương pháp khoa học nào để dữ liệu vừa chuẩn xác, vừa không bị giản lược tầng sâu bản sắc văn hóa.
Lê Hữu Chính
Lê Hữu Chính
Văn Thanh
Chu Tuấn
Phúc Anh
Lê Hữu Chính
Văn Thanh
Đan Quế
Phú Đức
H.T
Lê Hữu Chính
Thành Công
Nhài Huyền