Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

Luật hóa “quyền im lặng” để chống bức cung, oan sai

Thứ hai, 01/12/2014 - 10:19

(Thanh tra) - Phòng, chống oan sai, bảo vệ quyền con người, quyền công dân của nghi can, bị can, bị cáo luôn là vấn đề “nóng” trong tiến trình cải cách tư pháp và đưa Hiến pháp mới vào cuộc sống. “Quyền im lặng” được đặt ra trong Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) với hi vọng sẽ góp phần giải được bài toán này.

Các chuyên gia pháp lý cho rằng, nếu luật hóa "quyền im lặng" sẽ tránh được những vụ bức cung, nhục hình gây chết người như vụ 4 cảnh sát ở Kim Nỗ, Đông Anh, Hà Nội dùng nhục hình gây chết người phải hầu tòa vừa qua. Ảnh: Thảo Nguyên

Loại trừ buộc tội chính mình trái ý muốn

“Quyền im lặng” là một quyền của con người được gi nhận đầu tiên trong pháp luật Hoa Kỳ trên cơ sở phán quyết của TAND Tối cao năm 1966. 

Theo đó, trước khi thẩm vấn, cảnh sát phải giải thích cho nghi phạm hình sự: “Anh có quyền giữ im lặng và từ chối trả lời câu hỏi. Bất cứ điều gì anh nói cũng sẽ được dùng để chống lại anh trước tòa. Anh có quyền có luật sư khi khai báo với cảnh sát và luật sư sẽ hiện diện khi cảnh sát thẩm vấn anh. Nếu anh không thể tìm được luật sư, anh sẽ được cung cấp một luật sư trước khi trả lời các câu hỏi. Anh có thể trả lời câu hỏi khi không có luật sư nhưng anh vẫn có quyền ngưng trả lời bất cứ lúc nào để chờ sự có mặt của luật sư”.

Không chỉ Hoa Kỳ, trên thế giới “quyền im lặng” cũng được quy định trong pháp luật nhiều nước thuộc các hệ thống khác nhau tùy theo điều kiện kinh tế, xã hội và truyến thống pháp luật của mỗi quốc gia như Nga, Nhật, Trung Quốc, Đức…

Tuy nhiên, “quyền im lặng” không loại trừ quyền khai báo của người bị buộc tội. Việc nhận tội của bị can, bị cáo luôn được xem là tình tiết giảm nhẹ đặc biệt trong quyết định hình phạt đối với bị cáo.

“Quyền im lặng” là quyền của người bị tình nghi, bị buộc tội và họ có thực hiện quyền đó hay không là hoàn toàn phụ thuộc vào họ. Bởi trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về bên buộc tội; người bị tình nghi, bị can, bị cáo có quyền, chứ không có nghĩa vụ chứng minh là mình vô tội; đồng thời tránh để xảy ra khả năng do thiếu hiểu biết, do trạng thái tâm lý mà người bị tình nghi, bị can, bị cáo buộc tội mình trái ý muốn.

Việt Nam mới quy định gián tiếp “quyền im lặng”

Việt Nam không coi vụ án hình sự là tranh chấp, xung đột pháp lý giữa các bên, do đã xâm hại tới trật tự công cộng, lợi ích

“Quyền im lặng của người bị bắt, bị tạm giữ, bi can, bị cáo” phải xây dựng hai phương án: Phương án quy định quyền này và phương án không quy định quyền này. Đối với phương án quy định quyền này cần diễn đạt để bảo đảm phù hợp văn phong pháp lý và thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta, nghiên cứu không sử dụng thuật ngữ “quyền im lặng” để tránh ngộ nhận”, Viện trưởng Viện KSND Tối cao Nguyễn Hòa Bình, Trưởng ban Soạn thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) nêu rõ.

chung của xã hội, công dân nên nhà nước phải có trách nhiệm giải quyết, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. 

Mặt khác, trong mô hình tố tụng hình sự Việt Nam, việc tìm kiếm sự thật vụ án được xác định bằng phương pháp điều tra, thẩm vấn ở tất cả các giai đoạn tố tụng; điều tra, thẩm vấn ngay tại phiên tòa vẫn là phương pháp chủ yếu được áp dụng, việc tranh tụng chỉ diễn ra trong khi xét xử.

Đặc điểm nói trên cũng cho thấy nguyên tắc “bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” và “không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội” đã được ghi nhận (Điều 10 và 72 Bộ luật Tố tụng hình sự). Những quy định nói trên cho thấy, pháp luật Việt am đã có những quy định gián tiếp thể hiện một số nội dung của “quyền im lặng”.

Song theo đánh giá của một số chuyên gia pháp lý, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về các quyền của người bị buộc tội, người bào chữa không làm phát sinh nghĩa vụ tương ứng của cơ quan, người tiến hành tố tụng, việc vi phạm các quyền đó không làm phát sinh hậu quả pháp lý nào.

Chính vì thế, nhiều trường hợp, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có những biện pháp gây khó cho người bị buộc tội, thậm chí bức cung, dùng nhục hình. Còn khi ra tòa xét xử, những trường hợp bị can, bị cáo không trả lời các câu hỏi của người tiến hành tố tụng thường bị coi là “không ăn năn, hối cải” và phải nhận những mức hình phạt nghiêm khắc hơn. 

Không chỉ thế, do chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng và cơ chế đảm bảo thực thi nên gần như quyền này không được thừa nhận đúng vị trí, vai trò và phần nào làm hạn chế quyền bào chữa của Luật sư và quyền được có người bào chữa của bị can, bị cáo, người tạm giữ. 

Tháo gỡ rào cản

“Việc ghi nhận và thực hiện quyền im lặng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sẽ góp phần quan trọng vào việc giải quyết đúng đắn, khách quan vụ án hình sự, hạn chế oan sai, bảo vệ hiệu quả quyền con người trong tố tụng hình sự”, Phó Chánh án TAND Tối cao Trần Văn Độ nói và cho rằng, vấn đề là làm thế nào luật hóa “quyền im lặng” cho phù hợp với đặc điểm ở Việt Nam?.

Theo các chuyên gia, cần sửa đổi Bộ lLuật Tố tụng hình sự theo hướng bảo đảm quyền tiếp cận ngay từ đầu của Luật sư đối với người bị tình nghi phạm tội ngay khi bị triệu tập lấy lời khai do có đơn thư, tin báo tố giác tội phạm, khi bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Các cơ quan và người tiến hành tố tụng phải thông báo, giải thích về quyền tự bào chữa, nhờ luật sư, người khác bào chữa. Các lời khai của người bị buộc tội đưa ra thiếu sự cảnh báo này không được coi là chứng cứ để buộc tội tại phiên tòa.

TS Phan Trung Hoài, thành viên Tổ Biên tập sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự và các chuyên gia nhận định, từ trước đến nay, quyền bào chữa của luật sư chỉ là quyền phái sinh từ quyền của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo và phụ thuộc hoàn toàn vào quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, nhất là trong quá trình điều tra, thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ. Điều này dẫn đến, vai trò người bào chữa, luật sư chỉ được xếp ở vị trí “bổ trợ tư pháp”, “người tham gia tố tụng”.
 
“Luật sư cần có vị thế bình đẳng với những người tiến hành tố tụng là điều tra viên, kiểm sát viên… vì “khi nào luật sư thoát khỏi “chiếc áo” “bổ trợ tư pháp” thì nguyên tắc tranh tụng trong xét xử mới có thể được thực hiện triệt để”, TS Phan Trung Hoài nhấn mạnh.

Ngoài ra, phải tháo gỡ rào cản thủ tục hành chính tư pháp như hủy bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa đối với luật sư và trợ giúp viên pháp lý, thay vào đó bằng thủ tục đăng ký tham gia bào chữa, để có thể tiếp cận ngay lập tức với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; người đại diện hợp pháp hoặc của người thân thích. Luật sư được quyền chủ động làm việc với thân chủ, trong “tầm nhìn” chứ không trong “tầm nghe”, không bị hạn chế số lần và thời gian làm việc trong giờ hành chính để có thể trợ giúp thật sự có hiệu quả cho họ.


Thảo Nguyên

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Tăng cường thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm trong toàn chuỗi cung ứng

Tăng cường thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm trong toàn chuỗi cung ứng

(Thanh tra) - Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) định hướng đổi mới phương thức quản lý theo chuỗi cung ứng, tăng cường thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm và hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khỏe Nhân dân.

Thanh Lương

11:02 09/07/2026

Tin mới nhất

Xem thêm