Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật, ra đời như một bước ngoặt mang tính chiến lược.

Đây không chỉ là một công cụ pháp lý nhằm xử lý kịp thời các vướng mắc phát sinh, mà còn là kết tinh của tư duy đổi mới mạnh mẽ, tạo ra một “cú hích” quan trọng để chuyển hóa pháp luật từ rào cản thành lợi thế cạnh tranh, từ khuôn khổ quản lý sang động lực kiến tạo phát triển.

Trao đổi với phóng viên Báo Thanh tra, ông Nguyễn Quốc Hoàn, Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp) cho biết, từ thực tiễn tham mưu xây dựng Nghị quyết 206, một số kinh nghiệm và bài học được rút ra mang tính cốt lõi.

Kinh nghiệm quan trọng nhất trong tham mưu xây dựng pháp luật là phải thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương của Đảng, nhưng cũng cần mạnh dạn tư duy “vượt khung”, ông Nguyễn Quốc Hoàn chia sẻ.

Quá trình xây dựng Nghị quyết 206, một cơ chế đặc biệt về xây dựng pháp luật đã được mạnh dạn đề xuất: Cho phép Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết quy phạm pháp luật để điều chỉnh một số quy định của luật trong khi chờ sửa đổi chính thức.

Như vậy, trong công tác xây dựng pháp luật, phải chuyển từ tư duy lập pháp thụ động sang tư duy lập pháp chủ động, kiến tạo và thích ứng. Đặc biệt, việc bám sát cơ sở chính trị không đồng nghĩa với bó hẹp trong khuôn khổ cứng nhắc, mà đòi hỏi năng lực vận dụng sáng tạo, dám đề xuất những cơ chế “vượt khung” khi thực tiễn đặt ra yêu cầu cấp bách.

“Thực tiễn cho thấy, nếu chỉ tiếp cận pháp luật theo hướng tuần tự, chờ sửa đổi từng đạo luật theo quy trình truyền thống, thì hệ thống pháp luật sẽ luôn đi sau thực tiễn, thậm chí trở thành lực cản của phát triển. Ngược lại, việc mạnh dạn thiết kế các cơ chế linh hoạt, có kiểm soát, đã mở ra một cách tiếp cận mới: Pháp luật không chỉ phản ánh thực tiễn mà phải có khả năng dẫn dắt và điều chỉnh kịp thời để đáp ứng đỏi hỏi của thực tiễn”, ông Hoàn nhấn mạnh.

Bài học này đặt ra yêu cầu trong xây dựng pháp luật là cần kết hợp hài hòa giữa tính ổn định và tính linh hoạt; giữa tuân thủ nguyên tắc pháp quyền và yêu cầu xử lý nhanh các vấn đề phát sinh. Quan trọng hơn, đội ngũ tham mưu phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy đổi mới và trách nhiệm cao, dám đề xuất, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Chỉ khi đó, thể chế mới thực sự trở thành động lực phát triển, thay vì là rào cản của phát triển.

Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cho rằng, không thể xử lý vướng mắc nếu không nhận diện đúng nó. Trong đó, việc tham mưu chia “điểm nghẽn” thành 3 nhóm tiêu chí rõ ràng: Mâu thuẫn, chồng chéo; không rõ ràng, không khả thi; tạo gánh nặng chi phí hoặc cản trở đổi mới sáng tạo, có ý nghĩa quan trọng.

Từ cách tiếp cận nêu trên, theo ông Nguyễn Quốc Hoàn, có thể rút ra một bài học mang tính cốt lõi trong xây dựng pháp luật, đó là: Chất lượng của chính sách phụ thuộc trước hết vào chất lượng của khâu nhận diện vấn đề.

Thực tiễn cho thấy, nhiều bất cập của pháp luật không xuất phát từ việc thiếu quy định, mà từ việc quy định chưa đúng “trúng” vấn đề. Vì vậy, việc phân loại “điểm nghẽn” theo các tiêu chí rõ ràng không chỉ là thao tác kỹ thuật, mà là bước chuyển quan trọng về tư duy lập pháp - từ cảm tính sang dựa trên bằng chứng, từ tổng quát sang định lượng và định danh cụ thể.

Bài học đặt ra yêu cầu trong xây dựng pháp luật là cần thiết lập một phương pháp tiếp cận khoa học. Trong đó, việc rà soát, đánh giá tác động và nhận diện vấn đề phải được thực hiện một cách hệ thống, khách quan và có tiêu chí đo lường rõ ràng. Chỉ khi xác định đúng “vấn đề”, chúng ta mới có thể thiết kế được giải pháp phù hợp, bảo đảm tính trúng, đúng và hiệu quả của chính sách. Đây cũng chính là tiền đề để nâng cao chất lượng thể chế và giảm thiểu tình trạng sửa đổi pháp luật mang tính chắp vá, bị động.

Đáng chú ý, để ngăn chặn việc lạm dụng cơ chế đặc biệt, ông Hoàn cho biết, Nghị quyết 206 đã thiết lập hội đồng thẩm định độc lập do lãnh đạo Bộ Tư pháp làm chủ tịch. Đây là “bộ lọc” khách quan với sự tham gia của các bộ, ngành, cơ quan của Quốc hội và Mặt trận Tổ quốc. Quy trình thẩm định được rút ngắn chỉ còn 5 ngày làm việc nhưng yêu cầu về chất lượng lại cao hơn thông thường.

Từ thiết kế này có thể rút ra một bài học mang tính nguyên tắc trong xây dựng pháp luật: Mọi cơ chế linh hoạt đều phải được đặt trong một khuôn khổ kiểm soát quyền lực đủ mạnh, độc lập và hiệu quả.

“Đổi mới nếu không đi kèm kỷ cương sẽ dễ trượt sang tùy tiện; ngược lại, kiểm soát quá mức lại có thể triệt tiêu động lực cải cách. Vấn đề cốt lõi là thiết kế được một “điểm cân bằng thể chế” hợp lý”, theo ông Hoàn.

Bởi “bộ lọc” không chỉ nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật, mà còn tạo ra một cơ chế phản biện đa chiều, hạn chế tối đa rủi ro, lợi ích cục bộ hay quyết định mang tính chủ quan. Đáng chú ý, quy trình được rút ngắn nhưng tiêu chuẩn thẩm định lại được nâng cao, cho thấy một nguyên tắc quan trọng: Tốc độ không được đánh đổi bằng chất lượng, mà phải được bảo đảm bằng thiết kế quy trình hợp lý và trách nhiệm giải trình rõ ràng.

Bài học đặt ra yêu cầu trong quá trình xây dựng và vận hành các cơ chế đặc thù là cần đồng thời chú trọng thiết lập các thiết chế kiểm soát độc lập, minh bạch và có tính chuyên môn cao. Chỉ khi quyền lực được kiểm soát hiệu quả, thì đổi mới mới thực sự bền vững, và thể chế mới vừa linh hoạt, vừa giữ vững được nền tảng pháp quyền.

Xây dựng pháp luật trong bối cảnh khẩn cấp luôn tiềm ẩn rủi ro. Nghị quyết 206 đã thể chế hóa tinh thần của Kết luận 14-KL/TW, quy định rõ: Người đứng đầu và cán bộ tham gia sẽ được xem xét loại trừ, miễn trách nhiệm nếu tuân thủ đúng quy trình và không vụ lợi, ngay cả khi xảy ra thiệt hại. Điều này đã cởi bỏ tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, khơi dậy tinh thần dấn thân của đội ngũ cán bộ.

Từ thiết kế này có thể rút ra một bài học có tính đột phá trong xây dựng pháp luật: Thể chế không chỉ kiểm soát hành vi, mà còn phải kiến tạo và bảo vệ động lực hành động vì lợi ích chung. Nếu pháp luật chỉ dừng ở việc “ràng buộc” mà thiếu cơ chế “bảo vệ”, thì rất dễ hình thành tâm lý e dè, né tránh, làm suy giảm hiệu lực thực thi và triệt tiêu tinh thần đổi mới.

Việc quy định rõ cơ chế miễn, giảm trách nhiệm đối với người thực thi trong trường hợp tuân thủ đúng quy trình, không vụ lợi, dù phát sinh rủi ro khách quan, đã thể hiện một bước tiến quan trọng trong tư duy lập pháp: Chuyển từ quản lý rủi ro bằng cấm đoán sang quản trị rủi ro bằng thiết kế thể chế. Điều này không làm suy yếu kỷ cương, mà ngược lại, củng cố kỷ luật trên nền tảng minh bạch, trách nhiệm và chuẩn mực rõ ràng.

Bài học đặt ra yêu cầu trong xây dựng pháp luật là cần đồng thời thiết lập hai trụ cột: Một mặt là cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ; mặt khác là cơ chế bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Khi cán bộ được đặt trong một khuôn khổ pháp lý rõ ràng, được bảo vệ khi hành động đúng đắn, thì năng lực thực thi sẽ được giải phóng, tinh thần trách nhiệm được nâng cao.

Để bảo đảm tính nghiêm minh, các văn bản ban hành theo cơ chế này đều có ký hiệu riêng (bắt đầu từ 66.1) và có thời hạn hiệu lực cụ thể (kết thúc trước 1/3/2027). Điều này tạo áp lực buộc các cơ quan phải khẩn trương hoàn thiện các quy định pháp luật chính thức sau đó.

Bài học rút ra là, mọi cơ chế đặc thù, linh hoạt đều phải được “đóng khung” bằng giới hạn rõ ràng về phạm vi, thời hạn và nhận diện pháp lý, nhằm bảo đảm tính tạm thời thực chất và ngăn ngừa nguy cơ “thường xuyên hóa” các giải pháp ngoại lệ, tạm thời.

Điều này tạo ra một cơ chế “tự ràng buộc” mang tính kỹ thuật nhưng có giá trị pháp lý và kỷ luật rất cao. Đây không chỉ là công cụ nhận diện, mà còn là công cụ quản trị vòng đời chính sách, buộc các cơ quan có thẩm quyền phải chủ động hoàn thiện khuôn khổ pháp luật chính thức trong thời hạn xác định.

Ông Nguyễn Quốc Hoàn nhấn mạnh, bài học đặt ra là, trong thiết kế các cơ chế linh hoạt, cần đồng thời thiết lập cơ chế “thoát ra” rõ ràng, gắn với trách nhiệm giải trình và lộ trình chuyển tiếp cụ thể. Chỉ khi kiểm soát chặt chẽ tính tạm thời, chúng ta mới bảo đảm được sự hài hòa giữa yêu cầu xử lý nhanh các vấn đề thực tiễn và nguyên tắc ổn định, bền vững của hệ thống pháp luật. Đây chính là nền tảng để đổi mới mà không làm suy giảm kỷ cương pháp quyền.

Xuất bản 01/04/2026 - 17:03 Tác giả: Minh Nguyệt

Tin cùng chuyên mục

Nghị quyết 206 - đột phá về tư duy, chuyển từ “chờ luật sửa” sang “chủ động điều chỉnh”

Nghị quyết 206 - đột phá về tư duy, chuyển từ “chờ luật sửa” sang “chủ động điều chỉnh”

(Thanh tra) - Theo ông Nguyễn Quốc Hoàn, Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp), kinh nghiệm quan trọng nhất trong tham mưu xây dựng pháp luật là phải thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương của Đảng, nhưng cũng cần mạnh dạn tư duy “vượt khung”. Điển hình là Nghị quyết 206 của Quốc hội - một bước đột phá về tư duy, chuyển từ trạng thái “chờ luật sửa” sang “chủ động điều chỉnh” để khơi thông nguồn lực.

Minh Nguyệt

17:03 01/04/2026
Lâm Đồng khơi thông “điểm nghẽn” dự án: Mở đường cho tăng trưởng hai con số

Lâm Đồng khơi thông “điểm nghẽn” dự án: Mở đường cho tăng trưởng hai con số

(Thanh tra) - “Khi mục tiêu tăng trưởng hai con số đã được xác lập, Lâm Đồng buộc phải lựa chọn con đường rõ ràng, đó là không trì hoãn, không né tránh, mà trực diện tháo gỡ các dự án đang khó khăn, vướng mắc. Với một cách tiếp cận mới – đi sâu vào từng dự án, nhận diện đúng điểm nghẽn, xử lý đến cùng và biến những nguồn lực đang “đóng băng” thành kết quả cụ thể cho tăng trưởng”.

Vũ Linh - Minh Tân

11:09 22/03/2026

Tin mới nhất

Xem thêm