Mỗi độ Xuân về, khi hơi ấm theo gió men dọc dải Trường Sơn, miền tây TP Huế và tỉnh Quảng Trị được đánh thức trong sắc núi xanh non, tiếng cồng chiêng ngân dài và mùi khói bếp quấn quýt dưới mái nhà sàn. Giữa không gian ấy, bánh a quat, gói bằng lá đót, mang sắc tím than của nếp rẫy, lặng lẽ tỏa hương, như mạch ngầm văn hóa nối con người với đất trời, lưu giữ câu chuyện tình yêu, sinh sôi và sức sống bền bỉ của những cộng đồng đã gắn bó với núi rừng Trường Sơn qua bao mùa rẫy.
Không phải ngẫu nhiên mà người Pa Cô, Tà Ôi, Cơ Tu coi a quat như lễ vật thiêng gửi lên thần linh. Bởi trong thứ bánh nhỏ nhắn ấy, có tình yêu đôi lứa, có lịch sử lập làng, lập bản, có triết lý sinh sôi và cả sức sống trường cửu của cộng đồng đã cùng núi rừng đi qua bao con trăng mùa rẫy.
Xuân về, trong những mâm cúng đầu năm, trong tiếng gọi lúa mới, cũng như trong cả những khoảnh khắc thân thuộc của gia đình, dòng tộc và của cả cộng đồng, a quat vẫn hiện diện. A quat là “dấu chỉ” của sự đủ đầy, của mùa màng và của tấm lòng người miền núi giản dị nhưng không bao giờ thiếu vắng những điều thiêng liêng.
Trên những sườn núi Lê Triêng, A Niêng hay Kan-vil, chỉ cần nhắc đến a quat, ai cũng mỉm cười. Bởi đó không chỉ là bánh mà đó là câu chuyện của cha ông truyền bao thế hệ.
Ông T’ra Nau Hạnh, Trưởng làng Lê Triêng, kể trong nếp nghĩ trầm ấm của người giữ hồn bản: “Bánh a quat gắn với câu chuyện tình yêu đôi lứa của người Pa Cô. Hai cái bánh ghép lại thành cặp, như mong ước sinh sôi nảy nở của đồng bào mình. Nếu không có sự sinh sôi ấy thì làm sao có làng, có bản như hôm nay”.
Huyền thoại người Pa Cô kể rằng ngày xưa có nàng Pê-chôn xinh đẹp như con công múa giữa bìa rừng. Chỉ có chàng trai tài hoa A Chích, người biết nói lý lẽ, thổi khèn hay và dũng cảm như hổ rừng già, mới chinh phục được trái tim nàng. Họ được cha mẹ se duyên và một vị thần báo mộng cho dân làng làm món bánh có hình sừng trâu, gói bằng nếp than quý – như lời chúc cho đôi trẻ tròn vẹn và sinh sôi.
Thế nhưng, tai họa ập đến khi Pê-chôn bị kẻ giàu có Pất-nha bắt về làm vợ. Trước quân hầu và nô lệ của Pất-nha đông đúc, A Chích lại chỉ có một mình và trái tim dũng cảm. Vì thế, A Chích đã tìm đến thợ rèn giỏi nhất bên đất Lào, rèn thanh kiếm sắc, vượt ngàn đỉnh núi để đưa người thương trở về. Tình yêu chiến thắng và dân làng giữ lại câu chuyện như giữ một viên ngọc trong lòng rẫy. Để rồi mỗi người phụ nữ Pa Cô, từ bé gái đến người mẹ, đều học gói a quat như một cách gìn giữ sự trọn vẹn đó.
Chị Tâng Coal Nghi ở làng A Niêng cười hiền: “Ngày trước thấy bà, thấy mẹ làm, mình cũng tập. Giờ lễ gì cũng phải có a quat. Không có a quat là không thành lễ”. Trong ngày về nhà chồng, bên hành trang của cô dâu Pa Cô, Tà Ôi, Cơ Tu không chỉ có váy áo mới mà còn có những chiếc bánh a quat. Đó là lời chào thầm lặng gửi tới gia đình bên chồng, là dấu ấn của bàn tay đảm đang và nếp nhà được gìn giữ.
Khi người mẹ lặn lội vượt núi sang thăm con gái đã xuất giá, bà cũng mang theo những đôi bánh a quat, như mang theo hơi ấm gian bếp cũ, gói ghém trong đó sự nhớ thương, lời dặn dò và sợi dây gắn kết bền chặt giữa hai vợ chồng, hai mái nhà. A quat vì vậy trở thành biểu tượng của sự gắn bó có đôi có cặp, sự nở hoa của tình yêu, sự bền chặt của gia đình, sự ấm áp của những rẫy lúa đã nuôi cộng đồng qua bao thế hệ.
Để làm a quat, không cầu kỳ tìm kiếm thứ gì xa xôi. Tất cả đều từ núi rừng, từ đất đai, từ những thứ gần gũi nhất. Lá đót ở bìa rừng, phải chọn đúng lá non, vừa “đủ thì” để tạo mùi thơm khi nấu, sợi buộc là những dải chuối khô đủ dai nhưng vẫn mềm để không phá vỡ hình thù chiếc bánh. Nếp phải là nếp than Cư-cha được trồng trên đất rẫy núi cao, là thứ nếp quý, thơm nhẹ, màu tím than đặc trưng và dẻo bùi.
Ông T’ra Nau Hạnh phân tích: “Nếp than phải là loại ngon nhất. Lá đót cũng phải được chọn kỹ. Gói bằng lá dong hay lá chuối thì mất đi cái hương của núi rừng, không còn là a quat nữa”. Khi giã, phụ nữ phải giã thật đều tay để không làm gãy vụn hạt, nếu có hạt gãy, họ sàn lại. Bởi hạt nếp nguyên vẹn tượng trưng cho tình yêu bền chặt, trọn vẹn của A Chích và Pê-chôn.
A quat là loại bánh không nhân, chính vì vậy khi gói, người ta cầm ngửa lá đót, quấn quanh ngón tay cái thành hình chóp nón, cho nếp đầy vào, rồi lật ngược lại tạo thêm hình chóp thứ hai – hai chóp dính nhau ở đáy, như đôi sừng trâu. Những người khéo tay còn gói được loại ba chóp, tượng trưng cho con trâu hoàn chỉnh. Sau khi gói xong, bánh được ngâm nước lạnh hai giờ, rồi nấu thêm gần hai giờ nữa.
Bên những chiếc bánh a quat đang bốc khói nghi ngút vừa nấu chín, chị Tâng Coal Nghi nói: “Việc gì của bà con mình cũng cần có a quat. Ít nếp thì làm ít, nhiều thì làm nhiều. Đó là tấm lòng chân thành của gia đình với thần linh”.
Không chỉ từ câu chuyện A Chích và Pê-chôn mà a quat có đôi, có cặp. Một lí giải khác vì sao bánh lại mang hình sừng trâu? Người Pa Cô, Tà Ôi, Cơ Tu suốt bao đời coi trâu là vật linh thiêng nhất trong các nghi lễ lớn. Đâm trâu là nghi lễ tạ ơn, cầu mùa, cầu sức mạnh. Trâu hiện diện trên nóc nhà rông, trong hoa văn thổ cẩm, trong câu chuyện về lập làng.
Thế nên, a quat không chỉ là bánh, mà là một bản sao linh hồn của con vật thiêng ấy: Sự mạnh mẽ, bền bỉ và hào sảng.
Như lời già Ra Pat Trình ở làng Kan-vil: “Làm nhà rông phải có sừng trâu trên nóc. Đó là hình của vật thiêng tổ tiên truyền lại. Trong đó có người tên Ta-tưi”. Truyền thuyết người Tà Ôi kể về Ta-tưi, chàng trai thông minh và khỏe mạnh phi thường. Khi dân chưa biết trồng trọt, chưa biết nuôi trâu dê, chính Ta-tưi đã dạy họ. Chàng dựng nhà chung, khai phá đất đai, giúp người nghèo có cái ăn. Khi chết, Ta-tưi đã hóa thành con trâu – biểu tượng của sức mạnh và lòng hi sinh. Vì vậy mỗi khi vào nhà rông mới, mừng lúa mới hay làm lễ tết, đồng bào đều gói bánh a quat như lời tri ân những người khai mở cuộc sống hôm nay.
Trong đời sống thường ngày, a quat không chỉ có mặt trong những lễ cúng lớn của làng mà còn hiện diện trong các dấu mốc quan trọng của mỗi gia đình. Từ lễ mừng lúa mới, lễ cầu mùa, dựng nhà, vào nhà rông, cưới hỏi cho đến những dịp đón khách quý, a quat luôn được đặt trang trọng trên mâm lễ. Ở đâu có nghi lễ, có sự tri ân, có ước vọng mùa màng và sự sum vầy của cộng đồng, ở đó có bóng dáng mộc mạc mà thiêng liêng của bánh a quat.
Khi chín, a quat có màu hồng đen nhạt, thơm nhẹ mùi nếp quyện với lá đót non. Vị bánh bùi, ngọt thanh, mang đầy sắc thái núi rừng… Người Kinh có bánh chưng, bánh dầy từ chuyện Lang Liêu. Người Pa Cô có a quat của A Chích – Pê-chôn. Người Tà Ôi – Cơ Tu có a quat của Ta-tưi. Ba vùng văn hóa, ba câu chuyện khác nhau, nhưng đều gặp nhau ở: tình yêu, sự biết ơn, và mong ước mùa màng no đủ.
A quat cũng là món quà dành cho khách quý. Dù nhỏ bé, nhưng như chị Nghi nói: “Đó là cái bụng yêu quý nhau, cái tốt đẹp muốn chia cho nhau”.
Nhìn chiếc bánh nhỏ, người ta thấy cả ngàn mùa rẫy đi qua, thấy bàn tay người phụ nữ kiên nhẫn, thấy ngọn lửa bếp hồng những ngày giáp Tết, thấy sự bình yên của bản làng trong tiếng gà gọi sáng. Và hơn hết, thấy được tấm lòng son sắt của cộng đồng miền núi phía Tây Huế – Quảng Trị: Bền bỉ như cây đót, mộc mạc như hạt nếp, nhưng luôn hướng về sự gắn kết. Ông T’ra Nau Hạnh nói một câu như đúc kết: “Bánh a quat tuy giản dị nhưng gắn với không biết bao nhiêu mùa rẫy. Đồng bào gìn giữ nó như gìn giữ những gì sắc son nhất”.
Xuân trên Trường Sơn không chỉ có hoa rừng, không chỉ có hơi thở căng tràn của đất trời, mà còn có hương của a quat lan nhẹ trong từng mái nhà sàn. Trong ánh lửa hồng bập bùng đêm giao thừa, những đôi bánh sừng trâu – a quat bày lên gian bếp, như lời chúc cho năm mới: trọn vẹn, khỏe mạnh và đủ đầy.
A quat – món bánh của tình yêu và của những điều gìn giữ qua bao đời vẫn đi cùng những nếp nhà sàn, những điệu múa tạ ơn thần linh và cả những mùa rẫy. Và Xuân này, hẳn ai đã từng một lần ngược lên miền Tây Huế – Quảng Trị sẽ còn nhớ mãi mùi thơm dịu của nếp than, nhớ hình dáng đôi sừng trâu, nhớ câu chuyện của những tộc người gắn bó với núi rừng qua ngàn năm: chân thật – bền bỉ và chan chứa yêu thương.