Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

Vụ sao chép luận án tiến sỹ: Cuốn nào được Bộ GD&ĐT sử dụng làm căn cứ kết luận?

Thứ năm, 13/10/2016 - 11:43

(Thanh tra) - Vừa qua đã diễn ra phiên tòa xét xử vụ kiện hành chính giữa người khởi kiện là ông Hoàng Xuân Quế (Phó Viện trưởng Viện Ngân hàng - Tài chính, Đại học Kinh tế quốc dân (KTQD) và người bị kiện là Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT). Một trong những vấn đề tranh luận nhiều nhất là: Cuốn luận án nào được Bộ GD&ĐT sử dụng làm căn cứ để kết luận vụ sao chép luận án tiến sỹ (TS).

Cùng trong năm 2003, các tài liệu cơ quan chức năng thu thập được thì chữ kí của ông Hoàng Xuân Quế cũng khác nhau!

Bộ GD&ĐT thu thập và lưu giữ đầy đủ các luận án gốc trong hồ sơ vụ việc   

Trong quá trình tranh luận tại tòa, các câu hỏi tranh luận luôn xoay quanh vấn đề: Cuốn luận án nào đã được Bộ GD&ĐT sử dụng làm căn cứ để kết luận ông Hoàng Xuân Quế (Đại học KTQD) sao chép luận án TS của ông Mai Thanh Quế (Học viện Ngân hàng) để từ đó Thứ trưởng Bùi Văn Ga kí quyết định thu hồi Bằng TS của ông Hoàng Xuân Quế. Trong số 6 cuốn luận án được nêu trong hồ sơ vụ việc cuốn luận án nào được ông Hoàng Xuân Quế bảo vệ tại Hội đồng Chấm luận án TS cấp Nhà nước.

Theo thông tin thu thập được, các cuốn luận án được Bộ GD&ĐT sử dụng làm căn cứ đối chiếu, so sánh nội dung sao chép là 3 cuốn luận án của ông Hoàng Xuân Quế được lưu giữ chính thức theo đúng tiến trình đào tạo, cấp bằng tại các địa chỉ: Thư viện Quốc gia, Thư viện Đại học KTQD (cơ sở đào tạo) và Thư viện Khoa học Tổng hợp TP HCM.

Trong đó, cuốn luận án nộp tại Thư viện Quốc gia là cuốn theo quy định phải lưu giữ bắt buộc sau khi nghiên cứu sinh (NCS) bảo vệ xong luận án tại Hội đồng Chấm luận án TS cấp Nhà nước để được cấp bằng TS.

Cuốn luận án nộp tại Thư viện Đại học KTQD sau khi bảo vệ là hồ sơ lưu của quátrình đào tạo của NCS tại trường.

Còn cuốn tại Thư viện Khoa học Tổng hợp TP HCM là cuốn luận án nộp cho Bộ GD&ĐT để làm thủ tục thành lập Hội đồng Chấm luận án TS cấp Nhà nước (trước khi bảo vệ). Luận án này được Bộ GD&ĐT chuyển cho Thư viện Khoa học Tổng hợp TP HCM lưu giữ từ năm 2008, được vào Sổ đăng ký cá biệt tài sản Thư viện ngày 18/2/2008, nhập kho ngày 19/3/2008, số TQ:52/2008.

Như vậy, các cuốn luận án gốc nêu trên đã được Bộ GD&ĐT thu thập và lưu giữ đầy đủ trong hồ sơ vụ việc, khi thu nhận các quyển luận án để làm căn cứ đối chiếu nội dung sao chép đều có đầy đủ biên bản và xác nhận của các thư viện.

Không quy định NCS phải ký vào lời cam đoan

Về chữ ký tại lời cam đoan trên các cuốn luận án: Tại thời điểm 2003, không có quy định bắt buộc NCS phải ký vào lời cam đoan. Quy chế Đào tạo sau đại học ban hành theo Quyết định số 18/2000/QĐ-BGD&ĐT ngày 08/6/2000 không quy định luận án TS phải có lời cam đoan. Phần hướng dẫn về cách trình bày đối với một luận án TS theo Công văn số 8217/SĐH ngày 01/9/2000 của Bộ GD&ĐT mô tả mẫu bố cục của luận án cũng không quy định về việc NCS phải ký vào lời cam đoan. Hơn nữa, Quy chế TS hiện hành cũng không quy định bắt buộc NCS phải ký tên vào phần lời cam đoan của luận án.

Thực tế có rất nhiều trường hợp không ký tên vào lời cam đoan khi nộp luận án cho thư viện. Tại biên bản làm việc với lãnh đạo Thư viện Quốc gia vào ngày 30/9/2013 nêu rõ: Quy trình thu nhận luận án TS tại Thư viện Quốc gia vào thời điểm 2002 - 2003 không có quy định bắt buộc NCS phải ký vào lời cam đoan của cuốn luận án khi nộp cho Thư viện; Thư viện cũng không kiểm soát việc NCS ký vào lời cam đoan của luận án khi tiến hành thu nhận. Do đó, trên thực tế đã có rất nhiều trường hợp NCS không ký vào lời cam đoan của luận án.

Theo nguồn tin từ một lãnh đạo cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, khi kiểm tra xác suất 12 cuốn luận án TS lưu tại kho của Thư viện Quốc gia tại thời điểm năm 2002, 2003, 2004 cho thấy có đến 5/12 cuốn luận án, NCS không ký vào phần lời cam đoan (trong đó có cuốn luận án của ông Hoàng Xuân Quế và cả chính ông Mai Thanh Quế). Kiểm tra xác suất 10 cuốn lưu tại Thư viện Đại học KTQD vào thời điểm 2002 - 2004 có 5/10 cuốn không có chữ ký tác giả và tài liệu kèm theo.

Sau khi bảo vệ luận án (năm 2004), ông Hoàng Xuân Quế đã cho in cuốn sách “Bàn về các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay”, trong đó, những nội dung của luận án bị tố cáo sao chép từ luận án của ông Mai Thanh Quế đã được sử dụng gần như nguyên văn trong cuốn sách này.

Chữ ký trên các bản luận án nộp lại khác hẳn với chữ ký năm 2003

Theo quy định tại Nghị định số 72/2002/NĐ-CP, Thư viện Quốc gia là nơi lưu giữ chính thức các luận án của quốc gia. Việc so sánh, đối chiếu nội dung sao chép được căn cứ 3 bản luận án của ông Hoàng Xuân Quế (có cùng nội dung) được thu nhận tại các thư viện với bản của ông Mai Thanh Quế do Thư viện Quốc gia cung cấp.

Kết quả cho thấy: Chương 1 (từ trang 4 đến hết trang 57): Tổng số trang giống nhau: 17 trang (giống nhau nguyên văn về nội dung và câu từ; một số câu có thay thế, bổ sung một vài từ hoặc cụm từ); Chương 2 (từ trang 58 đến hết trang 118): Tổng số trang giống nhau: 6,5 trang (giống nhau nguyên văn về nội dung và câu từ; một số câu có thay thế, bổ sung một vài từ hoặc cụm từ); Chương 3 (từ trang 119 đến hết trang 162): Tổng số trang giống nhau: 29 trang (giống nhau nguyên văn về nội dung và câu từ; một số câu có thay thế, bổ sung một vài từ hoặc cụm từ). Kết quả trên cho thấy vị trí, số trang sao chép đúng như kết luận của Hội đồng Chức danh Giáo sư ngành Kinh tế học tại biên bản họp Hội đồng Xác minh luận án TS ngày 17/7/2013.

Về 3 cuốn luận án do ông Hoàng Xuân Quế nộp lại và khẳng định là bản luận án chính thức được dùng để bảo vệ tại Hội đồng Chấm luận án TS cấp Nhà nước ngày 26/10/2003 đã được Cục An ninh chính trị nội bộ gửi Viện Khoa học Hình sự, Bộ Công an giám định. Tổ xác minh đã xem xét kết quả giám định và tiến hành rà soát các quyển luận án. Kết quả rà soát cho thấy, một số điểm không đúng quy định và không có sự đồng nhất. Cụ thể: Hai cuốn bìa mềm, một cuốn bìa cứng trong khi quy định bắt buộc phải đóng bìa cứng; một cuốn luận án có 180 trang, hai cuốn còn lại có 179 trang; lề một số trang của ba cuốn luận án không đồng nhất; số lỗ ghim ở các trang trong ba cuốn luận án không đồng nhất; một số trang sử dụng phông chữ Times New Roman, trong khi quy định của Bộ là sử dụng phông chữ VnTime (Roman); số lỗ ghim các trang sử dụng phông chữ Times New Roman khác số lỗ ghim các trang liền kề và trùng với các trang mà Hội đồng Xác minh luận án TS ngành Kinh tế học kết luận là sao chép.

Một chi tiết đáng chú ý khác là chữ ký trên các bản luận án nộp lại của ông Hoàng Xuân Quế khác hẳn với chữ ký của ông năm 2003 trong hồ sơ lưu và giống với các chữ ký trong thời gian gần đây.

Nhóm PV

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Kỳ 4: Cuộc “đại phẫu” những "vết sẹo" lãng phí

Kỳ 4: Cuộc “đại phẫu” những "vết sẹo" lãng phí

(Thanh tra) - Lãng phí không chỉ là sự thất thoát được thể hiện qua những con số, mà còn là sự “tê liệt” của nguồn lực và sự xói mòn lòng tin của Nhân dân. Tại Thanh Hóa, trong 97 dự án đầu tư công tồn đọng kéo dài, có 2 dự án đường giao thông từ cầu Nỏ Hẻn đến đường tỉnh 514 và đoạn từ đường tỉnh 514 đến Cảng hàng không Thọ Xuân đang nằm trong “vòng xoáy” chậm trễ, gây lãng phí, trở thành những lực cản trên hành trình phát triển của địa phương.

Văn Thanh

07:00 19/04/2026
Kỳ 3: Không để vốn Nhà nước “nằm im” trên đường dang dở

Kỳ 3: Không để vốn Nhà nước “nằm im” trên đường dang dở

(Thanh tra) - Tại 2 dự án giao thông kết nối TP Thanh Hóa (cũ) với Cảng hàng không Thọ Xuân, khi cơ chế dần được tháo gỡ, nguồn lực đang được tính toán lại, vấn đề cốt lõi không còn là “vì sao chậm”, mà là “ai chịu trách nhiệm và làm thế nào để chấm dứt lãng phí?”. Đây không chỉ là bài toán hạ tầng, mà còn là phép thử đối với hiệu lực quản lý và quyết tâm chống lãng phí trong đầu tư công.

Văn Thanh

07:00 17/04/2026

Tin mới nhất

Xem thêm