Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

“Họ Vương - Thơ tuyển” - Dấu ấn để lại

Thứ năm, 04/10/2012 - 07:37

(Thanh tra)- Với họ Vương (không phải trên phạm vi cả nước) mà chỉ ở một làng - làng Đông Bích, xã Đông Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, sau khi xây dựng xong nhà thờ họ và quy tập nghĩa trang dòng họ, lại tìm tòi, sưu tầm, tuyển chọn thơ ca của 10 đời trong họ từ năm 1760 tới nay; trong cuốn sách đồ sộ gần 1.000 trang khổ 14,5x20,5cm do NXB Văn học ấn hành năm 2012.

Cuốn sách cho 2 phần chính: Giới thiệu tác phẩm thơ của 28 tác giả; Lý luận phê bình thơ của 8 nhà văn.

Một điều nổi bật đáng ghi nhận là ban tuyển chọn đã dày công tìm được 4 bài thơ của 4 cụ đời thứ 5. Các đời trước cũng có người hay làm thơ, chỉ tiếc là ngày ấy thơ không in ấn, xuất bản, không lưu trữ nên rơi rụng theo thời gian. Bốn cụ sinh vào cuối thế kỷ XIX hoặc đầu thế kỷ XX:

Cụ Vương Đình Uyển, ông nội nhà thơ Thạch Quỳ, còn để lại bài thơ “Trần ai ai biết”.

Cụ Vương Đình Phát, bố nhà thơ Vương Trọng được nhiều người nhắc đến nhất là bài “Dẫn nước về”. Cụ viết năm hạn hán, đến các giếng nước của làng cũng cạn kiệt. Cụ thể bài này nói đến điều đó, nhưng thầm nói chuyện đem đất nước về lại cho người mình: “Bao lâu mất nước, dân khao khát/Ai chẳng chờ mong dẫn nước về”. Thế đấy! Ai dám bảo các cụ ngày xưa làm thơ chỉ cốt để mà chơi.

Cụ Vương Đình Bỉnh với bài thơ “Tự thán” đầy nỗi niềm khi phải rời làng ra ở trong túp lều bên bãi tha ma, trong một giai đoạn lịch sử của quê hương.

Cụ Vương Đình Song có tuổi thọ cao trong dòng họ. Cụ sống tròn 90 tuổi, làm một bài thơ tứ tuyệt với câu kết khá bất ngờ: “Hai tay hai gậy chống đi chơi/Đường sá khô rang sướng tuyệt vời/Những lúc mưa trơn không thể bước/Chân nhờ con mắt dạo ra ngoài”.

Cả 4 cụ cùng bao người nữa từ lâu đã trở thành người thiên cổ. Người họ Vương bây giờ chỉ còn lại từ đời thứ 6 trở về sau. Điều mừng là, dòng họ Vương chưa bao giờ có nhiều người làm thơ như nửa sau của thế kỷ XX đến nay.

Trong tuyển thơ này ta gặp lại nhà thơ Vương Trọng mở đầu phần nội dung thơ với 119 bài trên 244 trang sách, đóng góp phần quan trọng về số lượng, về nghệ thuật thi ca. Anh tốt nghiệp Khoa Toán, Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại tá, hội viện Hội Nhà văn Việt Nam. Anh đã xuất bản 25 đầu sách bao gồm 16 tập thơ và trường ca cùng các tập truyện ngắn, bút ký, chân dung văn học, truyện thơ, thơ dịch. Anh được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt 2 (2007); Giải thưởng Cuộc thi Thơ của Tuần báo Văn nghệ 1969; hai lần giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam; 4 lần giải thưởng Bộ Quốc phòng…

Nhiều bài thơ của Vương Trọng đã “ghim” vào bộ nhớ bạn đọc. Những nỗi đau nhân tình, thế thái là xứ sở thơ anh, là mỏ quặng đích thực của thơ anh, anh tinh lọc thành những tác phẩm thơ, đóng góp vào nền thơ hiện đại của nước nhà.

Ta gặp trong thơ anh bao nhiêu đời người, cả những khoảnh khắc mong manh mà có sức ám ảnh. Ấy là khi qua lời hẹn, anh đứng bên mộ cụ Nguyễn Du, anh chia sẻ bao nỗi niềm cùng bà mẹ có đứa con ngoài giá thú. Rồi anh bàng hoàng trước sợi tóc hai màu và còn nhiều số phận: Chị dâu, hai chị em đứa trẻ có bố mẹ ra tòa. Ta còn gặp trong thơ Vương Trọng nhân vật huyền thoại được anh nhìn bằng con mắt mới mẻ: Mỵ Châu, Tiên Dung - đấy là những bài thơ đặc sắc nhất của Vương Trọng, cũng là những bài thơ hay của thơ ca hiện đại Việt Nam.

Nhà thơ Thạch Quỳ (tên thật là Vương Đình Huấn) với 103 bài trên 187 trang sách, kết thúc phần nội dung thơ.

Anh là một trong những tên tuổi sáng giá của thế hệ những cây bút trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và vững bước trên con đường thi ca đầy chông gai cho đến bây giờ.
Đọc thơ Thạch Quỳ điều dễ nhận thấy nhất là cái khí chất mạnh mẽ, đầy cá tính, đầy bản lĩnh của một cây bút từng trải: “Trơ trơ tảng đá/Đá đổ mồ hôi/Biết hay không biết/Lầm lì mồ hôi” (Tảng đá).

Có những bài thơ anh từng “xôn xao” một thời như bài “Với con”. Bây giờ đọc lại, ta thấy sự ấu trĩ của phê bình một thời. Thơ Thạch Quỳ có nhiều bài hay như: “Qua đền Công ghi chuyện cũ”, “Gạch vụn thành Vinh”, “Cái đường thẳng nằm trong hình học”…

Tác giả Vương Đình Trâm, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Nghệ An, 3 lần giải thưởng thơ Bộ Lâm nghiệp (1967, 1973, 1982), Giải thưởng Văn học Nguyễn Du (1985), Hồ Xuân Hương (2005).

Là cán bộ kỹ thuật Lâm trường Con Cuông (Nghệ An), hầu như trọn đời mình, anh lăn lộn với rừng, nên những bài thơ viết về đề tài lâm nghiệp để lại trong lòng người đọc, tình cảm sâu đậm: “Lá xà cừ vểnh cao tai thỏ/Đứng mơ màng nghe gió đi qua” (Gió ở vườn ươm cây vùng biển) hay “Bàn tay cuộn tròn thớ gỗ” (Một ngày bình thường).

Trong sách còn khoảng 10 tác giả là hội viên Hội Văn học Nghệ An, mỗi người một nét thể hiện thơ mình, nhưng tất cả đều với tấm lòng nhân ái, trân trọng tình làng, nghĩa xóm, bởi 28 tác giả trong tuyển tập cùng một nơi sinh: Làng Đông Bích. Nhiều người gắn trọn đời với quê, người ít nhất cũng sống ở quê những năm học phổ thông.

Cuốn sách “Họ Vương - Thơ tuyển” - Dấu ấn để lại của dòng họ Vương làng Đông Bích cho con cháu hôm nay và mai sau, đồng thời đóng góp phần sinh động vào kho tàng văn học nước nhà.


Nguyễn Ngọc Quỳnh

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Tin mới nhất

Xem thêm