Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

Đắk Lắk: Sức mạnh lòng dân giữa đại ngàn kháng chiến

Ngọc Giàu

Thứ ba, 03/11/2026 - 07:00

(Thanh tra) - Trong những năm tháng kháng chiến, giữa đại ngàn Tây Nguyên, đồng bào các dân tộc Đắk Lắk đã cùng nhau viết nên những trang sử hào hùng bằng lòng yêu nước, sự hy sinh và tình đoàn kết. 80 năm kể từ Ngày Toàn quốc kháng chiến, sức mạnh ấy vẫn là mạch nguồn quý giá trên hành trình xây dựng và phát triển quê hương.

Có những đóng góp trong chiến tranh không được ghi dấu bằng những trận đánh, mà bằng những lon gạo chắt chiu nuôi quân, những mái nhà sàn âm thầm che chở cán bộ và những bước chân băng rừng, vượt suối gây dựng cơ sở cách mạng.

Giữa những năm tháng gian khổ ấy, tình nghĩa quân dân được vun đắp từ những điều bình dị. Người cán bộ muốn bám trụ phải biết gần dân, hiểu dân; còn đồng bào, dù cuộc sống thiếu thốn, hiểm nguy luôn rình rập, vẫn sẵn lòng sẻ chia, đùm bọc. Chính sự gắn bó ấy đã góp phần tạo nên thế trận lòng dân vững chắc giữa núi rừng Tây Nguyên.

Gần 80 năm trôi qua, ký ức về những năm tháng ấy vẫn hiện hữu qua câu chuyện của ông Lê Chí Quyết và ông Y Luyện Niê Kđăm, hai người từng trực tiếp tham gia gây dựng cơ sở, vận động quần chúng trong kháng chiến. Những câu chuyện của họ không chỉ tái hiện một thời gian khó mà còn làm sáng rõ sức mạnh của lòng dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Trước thềm kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 – 19/12/2026), phóng viên Báo Thanh tra có dịp gặp gỡ, trò chuyện với ông Lê Chí Quyết (tên khai sinh Hồ Miên), sinh năm 1928, quê Bình Định (nay thuộc tỉnh Gia Lai), nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk.

Phóng viên Báo Thanh tra có dịp gặp gỡ, trò chuyện và lắng nghe những chia sẻ của ông Lê Chí Quyết, nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk. Ảnh: N.Giàu

Ở tuổi 98, ký ức của người cán bộ lão thành cách mạng có thể đã phai mờ đôi phần theo năm tháng, nhưng những dấu ấn về một thời chiến đấu, bám đất, bám dân vẫn còn đọng lại.

Qua lời kể mộc mạc của ông, những năm tháng gây dựng cơ sở cách mạng giữa đại ngàn Tây Nguyên hiện lên với biết bao gian khổ, hiểm nguy, nhưng cũng thấm đẫm nghĩa tình và sự chở che của đồng bào các dân tộc.

Năm 1944, khi mới 16 tuổi, ông Lê Chí Quyết đã tham gia lực lượng du kích tại địa phương. Đầu năm 1946, ông rời gia đình, lên đường nhập ngũ tại Trung đoàn 120, bắt đầu từ công việc phụ giúp bộ phận nuôi quân. Một năm sau, ông trở thành chiến sĩ bộ binh, trực tiếp tham gia chiến đấu trên tuyến đường 19, nối Pleiku với An Khê.

Trong ký ức của ông, một trong những dấu mốc đáng nhớ là trận chiến đấu với lực lượng Âu – Phi trong quân đội viễn chinh Pháp. Bằng tinh thần chiến đấu kiên cường, đơn vị của ông đã giành thắng lợi và được Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi điện khen ngợi. Đó không chỉ là niềm tự hào của người lính trẻ năm ấy mà còn là dấu ấn sâu đậm trong cuộc đời hoạt động cách mạng của ông

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, khi cách mạng miền Nam chuyển sang hoạt động bí mật, ông Lê Chí Quyết được lựa chọn ở lại miền Nam, thực hiện nhiệm vụ gây dựng cơ sở cách mạng trong vùng đồng bào Ba Na. Để hòa nhập với buôn làng, ông lấy tên P’la, Kak, mặc trang phục làm từ vỏ cây, thậm chí cà răng theo phong tục của thanh niên Ba Na thời bấy giờ.

Thời trẻ, trong những năm tháng kháng chiến, ông Lê Chí Quyết từng đóng khố, mang tên người Ba Na để hòa mình vào cuộc sống của đồng bào, tránh sự truy lùng của địch. Ảnh: Tư liệu.

Giữa núi rừng xa lạ, bất đồng ngôn ngữ, phong tục và luôn đối mặt với sự truy lùng của địch, ông hiểu rằng muốn bám trụ lâu dài, trước hết phải gần dân, hiểu dân và được dân tin tưởng. Từ cách ăn mặc, sinh hoạt đến lời ăn tiếng nói, người cán bộ cách mạng từng bước hòa mình vào cuộc sống của đồng bào, gây dựng niềm tin bằng sự chân thành và gắn bó.

“Muốn xây dựng cơ sở cách mạng thì phải được bà con tin tưởng, giúp đỡ. Nếu không có sự ủng hộ của Nhân dân thì lực lượng cách mạng không thể đứng chân được”, ông Quyết chia sẻ.

Tháng 6/1960, ông được điều động vào chiến trường Nam Tây Nguyên, nhận nhiệm vụ gây dựng cơ sở K61 tại Đắk Lắk. Đặt chân đến vùng đất mới, ông lại bắt đầu hành trình học tiếng Ê Đê. Cuốn sổ tay nhỏ trở thành người bạn đồng hành, ghi lại từng từ, từng câu giao tiếp để ông có thể trò chuyện, vận động và gần gũi hơn với đồng bào.

Bằng sự kiên trì và những bước đi thận trọng, chỉ sau khoảng hai tháng, ông đã gây dựng được một nhóm vũ trang địa phương với 18 người. Từ những hạt nhân ban đầu ấy, cơ sở cách mạng từng bước được hình thành giữa lòng buôn làng.

Dù tuổi đã cao, ông Lê Chí Quyết vẫn nhớ rõ những năm tháng hoạt động cách mạng, đặc biệt là những lần vinh dự được gặp Bác Hồ. Ảnh: N.Giàu

Nhìn lại chặng đường ấy, điều đọng lại trong ký ức của người cán bộ lão thành không chỉ là những tháng ngày gian khổ, hiểm nguy mà còn là nghĩa tình sâu nặng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Chính sự tin tưởng, chở che và đồng lòng của người dân đã giúp cán bộ cách mạng vượt qua muôn vàn thử thách, bám trụ địa bàn, xây dựng lực lượng và từng bước mở rộng phong trào.

Từ những buôn làng giữa đại ngàn, sức mạnh cách mạng được bồi đắp bằng một điều giản dị mà bền chặt: Có dân tin, dân thương, dân bảo vệ thì cách mạng mới có thể đứng vững và phát triển.

Nếu câu chuyện của ông Lê Chí Quyết là hành trình gây dựng cơ sở cách mạng từ lòng dân, thì cuộc đời hoạt động cách mạng của ông Y Luyện Niê Kđăm lại khắc họa sinh động sức mạnh của công tác dân vận, nơi niềm tin và nghĩa tình giữa cán bộ với đồng bào các dân tộc trở thành sợi dây gắn kết bền chặt trong những năm tháng chiến tranh.

Ông Y Luyện Niê Kđăm, sinh năm 1943, người dân tộc Ê Đê, quê ở buôn Tay, xã Krông Jing, huyện M’Đrắk (cũ), tỉnh Đắk Lắk; nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội.

Sinh ra và lớn lên giữa buôn làng Tây Nguyên, trong một gia đình có truyền thống yêu nước, ông sớm chứng kiến cảnh đồng bào bị áp bức, bắt bớ, cướp bóc. Những mất mát, bất công ấy đã thôi thúc chàng trai Ê Đê nung nấu ý chí đứng lên đấu tranh, góp sức giải phóng quê hương.

Ông Y Luyện Niê Kđăm đã có nhiều đóng góp, lập nên những chiến công và dấu ấn đáng nhớ trong quá trình hoạt động cách mạng. Ảnh: N.Giàu

Năm 1961, khi vừa tròn 18 tuổi, ông tình nguyện tham gia cách mạng và được kết nạp vào Đảng. Những năm tháng sau đó, ông đảm nhận nhiệm vụ quân bưu, đưa đón, dẫn đường cho cán bộ từ miền Bắc vào chiến trường. Giữa núi rừng hiểm trở, công việc ấy không chỉ đòi hỏi lòng gan dạ, sự thông thuộc địa hình mà còn cần sự gắn bó, tin tưởng và giúp đỡ của đồng bào các buôn làng.

Dấu ấn sâu đậm trong cuộc đời hoạt động cách mạng của ông là những năm tháng trực tiếp làm công tác dân vận. Năm 1971, ông được giao làm đội trưởng một đội công tác, dẫn gần 100 cán bộ, chiến sĩ vào các buôn làng vận động quần chúng. Lực lượng được chia thành nhiều tổ, bám sát từng địa bàn, kiên trì gây dựng phong trào.

Ban ngày, cán bộ tìm đến nương rẫy, vừa trò chuyện vừa giải thích để bà con hiểu về cách mạng. Đêm xuống, họ lại lặng lẽ đến từng nhà, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, vận động người dân tham gia và giúp đỡ lực lượng cách mạng. Cứ như thế, từ những cuộc gặp gỡ giản dị, niềm tin dần được vun đắp, tình cảm quân dân ngày càng thêm gắn bó.

Nhắc lại những ngày tháng ấy, ông Y Luyện Niê Kđăm vẫn xúc động trước tấm lòng của đồng bào. Dù cuộc sống thiếu thốn trăm bề, nhiều gia đình vẫn sẵn sàng sẻ chia chút lương thực ít ỏi để nuôi giấu, giúp đỡ cán bộ, bộ đội.

“Bị giặc ức hiếp, cướp bóc, bắt bớ, bà con rất căm hận. Biết cách mạng về, bà con mừng lắm. Dẫu nhà rất nghèo nhưng bà con vẫn chắt chiu góp cho bộ đội từng lon gạo. Có gia đình còn góp hết số gạo trong nhà, thương lắm”, ông bồi hồi nhớ lại.

Ông Y Luyện Niê Kđăm bồi hồi nhớ lại những năm tháng hoạt động cách mạng đầy gian khổ nhưng cũng rất đỗi tự hào. Ảnh: N.Giàu.

Những lon gạo chắt chiu giữa thời chiến, dù nhỏ bé, lại chứa đựng nghĩa tình lớn lao. Đó không chỉ là nguồn lương thực quý giá giúp bộ đội vượt qua gian khó mà còn là biểu hiện của niềm tin, sự đùm bọc và tinh thần đồng lòng của đồng bào các dân tộc đối với cách mạng.

Từ những nương rẫy, mái nhà sàn và những buôn làng giữa đại ngàn, công tác dân vận đã góp phần kết nối lòng dân, xây dựng cơ sở, tập hợp lực lượng và củng cố phong trào cách mạng. Với ông Y Luyện Niê Kđăm, dân vận không đơn thuần là tuyên truyền, vận động mà trước hết phải biết gần dân, hiểu dân, chia sẻ những khó khăn và tạo dựng niềm tin bằng hành động cụ thể.

Những năm tháng bền bỉ bám buôn, bám làng của ông cùng đồng đội đã góp phần xây dựng lực lượng, tạo nền tảng cho phong trào cách mạng ở địa phương. Để rồi, mùa Xuân năm 1975, chiến thắng Buôn Ma Thuột trở thành bước ngoặt chiến lược quan trọng, góp phần mở ra thời cơ tiến tới cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Nhìn lại chặng đường ấy, câu chuyện của người cán bộ Ê Đê năm xưa càng làm sáng rõ một bài học xuyên suốt: Sức mạnh của cách mạng không chỉ đến từ lực lượng, vũ khí mà còn được tạo nên từ niềm tin và sự đồng lòng của Nhân dân.

Ông Y Luyện Niê Kđăm (bìa phải) là một trong những cây đại thụ trong công tác dân vận, có nhiều đóng góp trong việc vận động, đoàn kết đồng bào các dân tộc ở buôn làng. Ảnh: AM

Nhìn lại những năm tháng kháng chiến, đồng bào các dân tộc Đắk Lắk không chỉ trực tiếp cầm súng chiến đấu mà còn âm thầm nuôi giấu, bảo vệ cán bộ, chắt chiu từng lon gạo tiếp tế cho bộ đội, gìn giữ cơ sở cách mạng giữa muôn vàn hiểm nguy. Có những gia đình phải chịu mất mát, hy sinh nhưng vẫn một lòng son sắt với cách mạng. Chính từ sự đùm bọc, sẻ chia và đồng lòng ấy, thế trận lòng dân được bồi đắp, trở thành một trong những nguồn sức mạnh quan trọng góp phần làm nên thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Theo ông Y Giang Gry Niê Knơng, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Đắk Lắk, truyền thống đoàn kết của đồng bào các dân tộc là tài sản tinh thần vô giá, được hun đúc qua những năm tháng đấu tranh gian khổ và tiếp tục là nền tảng quan trọng trong công cuộc xây dựng, phát triển quê hương hôm nay.

Là người con của dân tộc Ê Đê, ông Y Giang Gry Niê Knơng bày tỏ niềm tự hào và lòng biết ơn sâu sắc đối với các thế hệ cha anh đã không tiếc máu xương vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Theo ông, điều quan trọng không chỉ là tri ân quá khứ mà còn phải giúp thế hệ trẻ hiểu được giá trị của hòa bình, nhận thức rằng cuộc sống hôm nay được đánh đổi bằng biết bao hy sinh, mất mát.

Ông Y Giang Gry Niê Knơng, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Đắk Lắk. Ảnh: N.Giàu

Để những giá trị ấy tiếp tục được trao truyền, ông Y Giang Gry Niê Knơng cho rằng cần đổi mới cách giáo dục truyền thống lịch sử, đưa những câu chuyện của nhân chứng cách mạng đến gần hơn với thế hệ trẻ; tổ chức các hoạt động tìm hiểu di tích, trải nghiệm thực tế, đồng thời phát huy vai trò của già làng, người có uy tín, cựu chiến binh trong gìn giữ và lan tỏa những giá trị tốt đẹp của cộng đồng.

Trong giai đoạn phát triển mới, đặc biệt sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, Đắk Lắk đứng trước nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đối mặt với không ít khó khăn, thách thức.

Theo ông Y Giang Gry Niê Knơng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết không thể chỉ dừng lại ở những lời kêu gọi mà phải được thể hiện bằng những việc làm thiết thực, trước hết là chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, người dân vùng sâu, vùng xa và những địa bàn còn nhiều khó khăn.

Cùng với đó, MTTQ các cấp cần tiếp tục phát huy vai trò cầu nối giữa Đảng, chính quyền với Nhân dân; chủ động lắng nghe, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân; đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, chăm lo an sinh xã hội, hỗ trợ sinh kế, giảm nghèo bền vững và bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc.

Đặc biệt, việc củng cố niềm tin của Nhân dân phải bắt đầu từ những vấn đề gần gũi, thiết thực trong đời sống. Khi người dân được lắng nghe, được quan tâm, được tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển, khối đại đoàn kết sẽ ngày càng được củng cố, trở thành động lực để địa phương vượt qua khó khăn, phát triển bền vững.

Ông Y Giang Gry Niê Knơng nhấn mạnh việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết phải gắn với chăm lo đời sống Nhân dân. Ảnh: N.Giàu

“Nếu trong kháng chiến, đồng bào các dân tộc Đắk Lắk đã đoàn kết đấu tranh giành độc lập, tự do, thì hôm nay, chúng ta cần tiếp nối tinh thần ấy để chung sức xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh, đậm đà bản sắc, bảo đảm mọi người dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển”, ông Y Giang Gry Niê Knơng chia sẻ.

80 năm đã trôi qua kể từ Ngày Toàn quốc kháng chiến, những câu chuyện về sự hy sinh, lòng quả cảm và nghĩa tình của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vẫn còn nguyên giá trị. Từ những lon gạo nuôi quân, những buôn làng chở che cán bộ năm xưa đến sự đồng lòng xây dựng quê hương hôm nay, tinh thần đại đoàn kết luôn là sợi dây bền chặt nối liền quá khứ với hiện tại.

Nếu trong chiến tranh, lòng dân là điểm tựa để cách mạng vượt qua gian khó, thì trong hòa bình, niềm tin và sự đồng thuận của Nhân dân tiếp tục là nền tảng để Đắk Lắk vững bước trên hành trình phát triển.

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Đắk Lắk: Sức mạnh lòng dân giữa đại ngàn kháng chiến

Đắk Lắk: Sức mạnh lòng dân giữa đại ngàn kháng chiến

(Thanh tra) - Trong những năm tháng kháng chiến, giữa đại ngàn Tây Nguyên, đồng bào các dân tộc Đắk Lắk đã cùng nhau viết nên những trang sử hào hùng bằng lòng yêu nước, sự hy sinh và tình đoàn kết. 80 năm kể từ Ngày Toàn quốc kháng chiến, sức mạnh ấy vẫn là mạch nguồn quý giá trên hành trình xây dựng và phát triển quê hương.

07:00 03/11/2026
Vai trò của Phật giáo Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Vai trò của Phật giáo Việt Nam trong kỷ nguyên mới

(Thanh tra) - Hơn 2.000 năm hiện diện trong đời sống dân tộc, Phật giáo Việt Nam không chỉ để lại dấu ấn trong tín ngưỡng mà còn hòa vào văn hóa, đạo đức, lối sống và tinh thần cộng đồng. Bước vào kỷ nguyên mới, khi trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội, chuyển đổi số cùng những biến đổi nhanh chóng của đời sống đang đặt ra nhiều vấn đề mới, câu hỏi không chỉ là gìn giữ truyền thống, mà còn là làm thế nào để những giá trị Phật giáo tiếp tục đồng hành với con người và xã hội hôm nay.

Trà Vân

17:32 02/11/2026

Tin mới nhất

Xem thêm