Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

Quảng Ngãi rà soát vị trí việc làm 2027-2031: Không lấy người sẵn có để tính nhu cầu

Minh Nghĩa

Thứ năm, 05/11/2026 - 21:47

(Thanh tra) - Chuẩn bị phương án biên chế giai đoạn 2027-2031, Quảng Ngãi yêu cầu xác định nhu cầu nhân lực từ nhiệm vụ, sản phẩm và khối lượng công việc thực tế. Dữ liệu phải được kiểm chứng, tránh tính trùng; người đứng đầu chịu trách nhiệm xác nhận kết quả.

Trung tâm dịch vụ hành chính công Quảng Ngãi. Ảnh: https://quangngai.gov.vn/

Ngày 5/11, Tổ công tác 1061 của Tỉnh ủy Quảng Ngãi ban hành Công văn số 04-CV/TCT, đề nghị các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm; sử dụng phần mềm và tài liệu được cung cấp để tự kiểm thử thông tin trong bộ biểu.

Đây là bước triển khai Kế hoạch số 124-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, thực hiện Kết luận số 107-KL/TW ngày 17/10/2026 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 07-HD/BTCTW ngày 19/10/2026 của Ban Tổ chức Trung ương.

Theo hướng dẫn do Ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Ngãi biên soạn, vị trí việc làm được xác định từ chức năng, nhiệm vụ, công việc và sản phẩm; không xuất phát từ người hiện có, ngạch hoặc biên chế được giao. Nhu cầu nhân lực phải có căn cứ về khối lượng, tính chất và điều kiện thực hiện công việc.

Trước hết, các cơ quan phải đối chiếu chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền còn hiệu lực; phân loại nhiệm vụ tiếp tục thực hiện, mới tiếp nhận, đã chuyển giao hoặc không còn thực hiện. Mỗi nhiệm vụ phải rõ căn cứ và chủ thể chịu trách nhiệm.

Yêu cầu này đặc biệt đáng chú ý trong phân định công việc giữa tỉnh và xã. Với nhiệm vụ chuyển giao, hồ sơ phải thể hiện cơ quan giao, nhận, thời điểm, thẩm quyền và phần việc mỗi bên. Cấp tỉnh chỉ kê phần trách nhiệm còn lại như hướng dẫn, kiểm tra, hậu kiểm, tránh tính lại phần đã giao cấp xã.

Từ danh mục nhiệm vụ, từng cơ quan xác định công việc, sản phẩm, yêu cầu chất lượng và thời hạn. Nếu nhiều người cùng tham gia một sản phẩm, phải phân rõ phần lao động của từng người, không nhân toàn bộ sản lượng cho mỗi người thực hiện.

Cách kê khai cũng phải đủ cụ thể để kiểm chứng. Các từ “thường xuyên”, “hằng ngày”, “theo phát sinh” chưa thể thay thế số lượng sản phẩm. Thời hạn giải quyết thủ tục không phải thời gian lao động trực tiếp; số giờ tính toán phải gắn với phần việc thực hiện và có căn cứ xác nhận.

Khối lượng công việc được thống kê trong kỳ từ ngày 01/10/2025 đến hết ngày 30/9/2026; nhân lực hiện có chốt tại ngày 30/9/2026. Đơn vị mới thành lập hoặc nhiệm vụ mới chuyển giao chưa đủ kỳ phải ghi thời gian thực tế, dữ liệu bàn giao và phần còn thiếu, không nhân cơ học số liệu ngắn kỳ thành 12 tháng.

Phương pháp xác định nhân lực được lựa chọn theo tính chất công việc: theo cơ cấu, chức danh, yêu cầu hiện diện; theo sản lượng và giờ lao động; hoặc thẩm định theo sản phẩm, tiến độ, trách nhiệm và năng lực chuyên môn. Phương pháp thứ ba áp dụng với công việc khó chuẩn hóa thời gian như tham mưu chiến lược, nghiên cứu, thẩm định, kiểm tra, giám sát, phản biện.

Sau khi lượng hóa công việc, kết quả tính toán phải được xem xét cùng phương án tổ chức thực hiện. Cẩm nang phân biệt số người quy đổi, số người cần bố trí, nhân lực hiện có và biên chế được giao hoặc đề nghị.

Ví dụ minh họa trong tài liệu: 2.600 giờ lao động chia cho quỹ giờ 1.904 giờ tương ứng khoảng 1,37 người quy đổi. Không được tự làm tròn kết quả này thành hai biên chế. Số người cần bố trí còn phụ thuộc yêu cầu chuyên môn, hiện diện, khả năng kiêm nhiệm, điều chuyển và phân công công việc.

Quỹ giờ quy đổi cũng phải phù hợp chế độ làm việc. Các vị trí trực, làm việc theo ca, kíp hoặc chế độ đặc thù cần quỹ giờ tương ứng được xác nhận, tránh áp dụng đồng loạt một mức.

Tương tự, tác động của chuyển đổi số phải được chứng minh bằng thay đổi thực tế. Có phần mềm hoặc kế hoạch số hóa chưa đủ căn cứ giảm giờ lao động.

Cơ quan phải xác định công đoạn đã thay đổi, số lượng áp dụng và thời gian trước, sau trên cùng phạm vi đo. Nếu số liệu kê khai đã phản ánh thời gian sau thay đổi thì không tiếp tục trừ phần tiết kiệm. Những việc mới phát sinh như quản lý dữ liệu, giám sát dịch vụ, kiểm soát chất lượng cũng phải được tính khi có căn cứ.

Trên cơ sở nhu cầu đã xác định, các cơ quan đối chiếu với đội ngũ hiện có, ưu tiên bố trí lại, điều chuyển, đào tạo trước khi đề xuất điều chỉnh. Người kiêm nhiệm nhiều vị trí hoặc công tác đảng chỉ tính một người thực tế, với phần thời gian được phân bổ phù hợp.

Phương án nhân lực, biên chế 2027-2031 phải lập riêng từng năm, giải trình thay đổi về nhiệm vụ, sản lượng, công nghệ, tài chính và biến động nhân lực; không sao chép năm gốc hoặc áp dụng tỷ lệ cố định.

Để kiểm soát chất lượng dữ liệu, Công văn số 04-CV/TCT yêu cầu các đơn vị tự kiểm thử, hoàn thiện thông tin, báo cáo tiến độ trước 17 giờ thứ Tư hằng tuần và phản ánh vướng mắc qua đầu mối phụ trách từng khối.

Việc kiểm thử không thay thế trách nhiệm xác nhận nghiệp vụ. Theo cẩm nang, người đứng đầu ký xác nhận, chịu trách nhiệm về dữ liệu gốc và kết quả của cơ quan. Chưa có dữ liệu phải ghi đúng trạng thái, giải trình; không ghi số 0 để hoàn thành biểu, không sửa công thức hoặc xóa cảnh báo để hiển thị “ĐẠT”.

Yêu cầu đặt ra cho giai đoạn 2027–2031 là mỗi đề xuất nhân lực phải giải trình được công việc, sản phẩm và năng lực cần có. Từ đó, việc đối chiếu với đội ngũ hiện hữu mới làm rõ nơi cần bố trí lại, chuyên môn cần đào tạo và nhu cầu cần đề xuất điều chỉnh biên chế.

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Tin mới nhất

Xem thêm