Theo dõi Báo Thanh tra trên
Thứ sáu, 20/07/2018 - 06:30
(Thanh tra)- Dù đã ký biên bản thỏa thuận chia đất thừa kế, nhưng bà Thu vẫn khởi kiện ra Tòa vì cho rằng mảnh đất hơn 1.900m2 là thuộc thừa kế của chồng bà. Trong khi đó, người mua lại phần đất này có nguy cơ “trắng tay” vì bị Tòa tuyên hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu.
Phần đất đang tranh chấp. Ảnh: CN
Ký thỏa thuận, vẫn khởi kiện
Theo hồ sơ vụ việc, vợ chồng cụ Trương Văn Hai và cụ Đặng Thị Sắng có 9 người con, trong đó 3 người đã mất, 6 người còn lại gồm: Liếng, Lắm, Lem, Rồi, Út, Quý.
Lúc sinh thời, cụ Hai và cụ Sắng có tạo lập phần đất có diện tích hơn 1.900m2 tại số 614/53A tổ 2, khu phố 1, phường Phước Long B, quận 9, TP Hồ Chí Minh.
Do vợ chồng ông Rồi, bà Thu đã ở cùng cụ Sắng trước đó nên anh em trong gia đình họp bàn và thống nhất giao nhà đất cho vợ chồng ông Rồi tạm thời quản lý.
Sau khi cụ Hai và cụ Sắng qua đời nhưng không để lại di chúc, đến năm 2000 ông Rồi mất cũng không có di chúc, bà Thu tiếp tục quản lý nhà đất nêu trên.
Ngày 18/12/2002, các anh em trong gia đình đã tổ chức họp và thỏa thuận phân chia tài sản. Theo đó, phần diện tích đất hơn 1.900m2 mà bà Thu đang tạm quản lý trên được chia đều cho 6 người con thừa kế.
Ngày 21/12/2002, những người đồng thừa kế cùng cán bộ UBND phường Phước Long B đã tiến hành đo đạc và lập biên bản theo giấy thỏa thuận phân chia tài sản.
Trên cơ sở giấy thỏa thuận phân chia tài sản cũng như biên bản đo đạc đất, ông Quốc (con bà Liếng), bà Lem và bà Út đã chuyển nhượng phần đất thừa kế được chia cho ông Nguyễn Văn Mười. Còn ông Quý, bà Phiến, ông Định (con ông Lắm) chuyển nhượng phần đất thừa kế được chia cho ông Trần Linh Ngọc.
Mọi việc tưởng chừng đã rõ thì bất ngờ bà Thu không đồng ý với bản thỏa thuận phân chia đất mà chính bà đã ký trước đó. Bà Thu cho rằng, phần đất mà vợ chồng cụ Hai để lại là tài sản thuộc sở hữu riêng của chồng bà, không phải tài sản chung của các đồng thừa kế.
Sau nhiều lần họp gia đình vẫn không thể giải quyết được bất đồng, bà Thu đã khởi kiện vụ án tranh chấp tài sản thừa kế.
Ngày 19/1/2017, tại Bản án sơ thẩm số 20/2017/DS-ST, Tòa án nhân dân quận 9 nhận định, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người thứ ba, tránh việc tranh chấp về sau, việc nguyên đơn yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không phù hợp.
Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã quyết định không chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Mười, ông Ngọc trả lại đất, cũng như không chấp nhận việc hủy bỏ hợp đồng mua bán giữa ông Mười, ông Ngọc với các đồng thừa kế.
Nguy cơ mất đất vì hợp đồng bị hủy
Không đồng tình với quyết định của Tòa án nhân dân quận 9, bà Thu đã kháng nghị.
Ngày 11/12/2017, Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh có Bản án phúc thẩm số 1117/2017/DS-PT tuyên xử mảnh đất tranh chấp trên là của bà Thu và hủy hợp đồng sang nhượng đất của những đồng thừa kế với ông Mười và ông Ngọc.
Theo các đồng thừa kế, bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh có nhiều điểm mâu thuẫn và thiếu căn cứ. Cụ thể, khi cụ Hai và cụ Sắng mất đều không để lại di chúc, vợ chồng bà Thu chỉ được tạm đứng ra quản lý tài sản chứ không phải được cho.
Ông Mười cho rằng, từ khi vợ chồng cụ Hai, cụ Sắng đến ông Rồi qua đời, các anh em ông Rồi không ai khiếu nại hay tranh chấp nhà đất. Điều đó không có nghĩa là vợ chồng ông Rồi cũng như các con của ông có quyền sử dụng đất của vợ chồng cụ Hai, cụ Sắng. Đó cũng không phải là căn cứ để xác định anh chị em ông Rồi từ bỏ quyền thừa kế.
Đáng chú ý, trong quá trình giải quyết vụ án, các đồng thừa kế trên đã đề nghị công nhận các hợp đồng chuyển nhượng nhà đất cho ông Mười và ông Ngọc, nhưng không được Tòa cấp phúc thẩm xem xét đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của đương sự trong vụ án và có dấu hiệu vi phạm thủ tục tố tụng.
Tại bản án phúc thẩm, Viện Kiểm sát nhân dân TP Hồ Chí Minh nhận định, căn cứ Giấy thỏa thuận ngày 18/12/2002 và Biên bản đo đạc ngày 21/12/2002, bên bán đã lập hợp đồng sang nhượng đất cho ông Mười, ông Ngọc. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bên thứ ba, cần bác yêu cầu kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm là công nhận những hợp đồng chuyển nhượng trên.
Liên quan đến vụ việc, Viện Kiểm sát nhân dân Cấp cao tại TP Hồ Chí Minh xác nhận đã nhận được đơn đề nghị xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 1117/2017/DS-PT ngày 11/12/2017 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã có hiệu lực pháp luật.
Báo Thanh tra sẽ thông tin tiếp vụ việc.
Cảnh Nhật
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Lãng phí không chỉ là sự thất thoát được thể hiện qua những con số, mà còn là sự “tê liệt” của nguồn lực và sự xói mòn lòng tin của Nhân dân. Tại Thanh Hóa, trong 97 dự án đầu tư công tồn đọng kéo dài, có 2 dự án đường giao thông từ cầu Nỏ Hẻn đến đường tỉnh 514 và đoạn từ đường tỉnh 514 đến Cảng hàng không Thọ Xuân đang nằm trong “vòng xoáy” chậm trễ, gây lãng phí, trở thành những lực cản trên hành trình phát triển của địa phương.
Văn Thanh
(Thanh tra) - Tại 2 dự án giao thông kết nối TP Thanh Hóa (cũ) với Cảng hàng không Thọ Xuân, khi cơ chế dần được tháo gỡ, nguồn lực đang được tính toán lại, vấn đề cốt lõi không còn là “vì sao chậm”, mà là “ai chịu trách nhiệm và làm thế nào để chấm dứt lãng phí?”. Đây không chỉ là bài toán hạ tầng, mà còn là phép thử đối với hiệu lực quản lý và quyết tâm chống lãng phí trong đầu tư công.
Văn Thanh
Văn Thanh
Văn Thanh
Thái Minh
Thuỳ Anh
Hoàng Hưng
PV
PV
Trọng Trí - Thùy Dương
Quang Dân
Hòa Bình
Đặng Kim Hoa, Phó Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp
BTT
Theo TTXVN
Trung Hà
Chu Tuấn - Thế Bình