Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

Đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài - "Cầu nối" quan trọng phát triển nguồn nhân lực quốc gia

Bài 3: Xuất khẩu lao động - Cơ hội phát triển nhân lực cao

Thành Công

Thứ bảy, 29/08/2026 - 10:00

(Thanh tra) - Xuất khẩu lao động không chỉ đơn thuần để có thu nhập cao, mà quan trọng, giúp người lao động trở về với một nghề nghiệp vững vàng, kinh nghiệm làm việc, năng lực quản trị và khả năng tiếp nhận công nghệ - đó mới là giá trị lâu dài đối với quốc gia, và là cơ hội phát triển nhân lực cao.

Nếu được khai thác hiệu quả, lực lượng xuất khẩu lao động tay nghề cao sẽ là nguồn lực quan trọng để nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

Nhiều thị trường lao động trọng điểm đang thiếu nhân lực và mong muốn hợp tác lao động với Việt Nam. Ảnh minh họa: VGP

Chính sách đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đang chuyển dịch mạnh mẽ từ mục tiêu giải quyết việc làm đơn thuần sang định hướng phát triển nhân lực chất lượng. Đây là chiến lược quan trọng để phát triển nguồn nhân lực, trọng tâm là chọn lọc kỹ càng, gắn việc sau khi người lao động về nước, sẽ mang theo kỹ năng mới, tác phong làm việc chuẩn và tư duy hiện đại phục vụ các ngành nghề mũi nhọn của quốc gia.

Bộ trưởng Nội vụ Nguyễn Tiến Hải cho biết, chính sách đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là chính sách "kép", vừa đưa lao động có tay nghề, chuyên môn ra nước ngoài làm việc, vừa có cơ chế thu hút, phát huy hiệu quả nguồn nhân lực này khi trở về nước.

Số liệu cho thấy, năm 2025, Việt Nam đưa 144.345 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, vượt 11% kế hoạch đề ra. Nhật Bản tiếp tục là thị trường tiếp nhận lớn nhất với hơn 64.600 lao động, tiếp theo là Đài Loan (Trung Quốc) trên 57.000 lao động và Hàn Quốc với hơn 11.600 lao động.

Đây không chỉ là kết quả tích cực về giải quyết việc làm mà còn cho thấy lao động Việt Nam ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các thị trường có tiêu chuẩn cao.

Bước sang năm 2026, dù chịu tác động từ những biến động của thị trường lao động quốc tế, trong 6 tháng đầu năm, cả nước đưa 66.311 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đạt 59,2% kế hoạch năm.

Từ thực tiễn đưa xuất khẩu lao động, ông Đinh Thanh Bình, Phó Giám đốc Trung tâm Xuất khẩu lao động Mai Linh cho rằng, lợi thế của lao động Việt Nam trong thời gian tới không nằm ở số lượng mà ở chất lượng. Những người tích lũy được tay nghề, ngoại ngữ và tác phong công nghiệp khi làm việc tại Nhật Bản hoặc Hàn Quốc sẽ có nhiều cơ hội phát triển khi trở về nước.

Đây là nguồn nhân lực mà các doanh nghiệp trong nước đang rất cần trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển công nghiệp công nghệ cao và hội nhập sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nhiều doanh nghiệp Nhật Bản ưu tiên tuyển dụng lao động Việt Nam. Ảnh minh họa: Suleco

Thực tế, việc đẩy mạnh đưa lao động đã qua đào tạo, lao động có tay nghề đi nước ngoài làm việc đã và đang mang lại cho người lao động cũng như nền kinh tế những lợi ích “kép”. Sau khi hết thời gian lao động ở nước ngoài, số lao động có tay nghề trở về nước sẽ trở thành nguồn cung quan trọng đối với doanh nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung, bởi lúc đó, họ không chỉ có tay nghề mà còn có kinh nghiệm, ý thức kỷ luật do được lao động thời gian dài trong môi trường chuyên nghiệp tại nước ngoài.

Đây là nguồn lực để doanh nghiệp đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, xây dựng môi trường lao động kỷ luật, hiệu quả.

Vì vậy, nhiều chuyên gia cho rằng xuất khẩu lao động cần được nhìn nhận như một chiến lược đầu tư cho nguồn nhân lực, thay vì chỉ là hoạt động giải quyết việc làm ngắn hạn. Luật Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua cũng không ngoài mục đích thể chế hóa mạnh mẽ hơn chủ trương phát triển nguồn nhân lực của Đảng, Nhà nước; coi lao động ngoài nước là một kênh đào tạo nhân lực thông qua môi trường làm việc hiện đại, kỷ luật tại các nước phát triển. Kinh nghiệm, kỹ năng tích lũy được sẽ trở thành nguồn lực quý giá phục vụ phát triển đất nước. Trong bối cảnh hội nhập lao động quốc tế, đây là tầm nhìn chiến lược về xây dựng và phát triển nguồn nhân lực quốc gia.

Từ thực tế đó, nguyên Bộ trưởng Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung cho rằng, nếu khâu đào tạo tay nghề trước khi đi là nền móng, thì khả năng biến những gì học được trong thời gian làm việc ở nước ngoài thành năng lực khi trở về mới là thước đo giá trị của một hành trình lao động. Khi trở về phải hướng đến “làm chủ”. Làm chủ ở đây không phải chỉ là trở thành chủ một doanh nghiệp, mà trước hết là làm chủ nghề nghiệp, khoa học và công nghệ.

Thực tế, nhiều lao động sau thời gian làm việc ở nước ngoài đã trở về xây dựng cuộc sống, mô hình kinh doanh bài bản, trở thành chủ doanh nghiệp hoặc nhà quản lý. Những kết quả đó cho thấy giá trị của xuất khẩu lao động không chỉ nằm ở nguồn thu nhập mà còn ở lượng “vốn” tri thức, kỹ năng và kinh nghiệm mà người lao động tích lũy được.

Đây cũng là lý do ông Đào Ngọc Dung cho rằng cần thay đổi cách nhìn về hợp tác lao động trong giai đoạn mới. Việt Nam cần tiếp tục mở rộng cơ hội để thanh niên được học tập và làm việc ở nhiều thị trường quốc tế chất lượng cao.

“Đó là đào tạo trước khi đi, chuẩn bị nghề nghiệp trước khi xuất phát; rèn luyện ngoại ngữ, tác phong và kỹ năng làm việc; đồng thời quan tâm đến quá trình trưởng thành và tương lai của người trẻ sau khi trở về”, ông Dung nói.

Bài toán này càng trở nên đáng chú ý khi Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số, trong khi nền kinh tế đang tăng tốc và nhu cầu nhân lực cho công nghiệp, thương mại, dịch vụ ngày càng thay đổi. Theo ông Lê Quang Trung, nguyên Phó Cục trưởng phụ trách Cục Việc làm, Việt Nam cần tham khảo kinh nghiệm của Nhật Bản và các quốc gia đang đối diện với vấn đề dân số để chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực. Xa hơn, đây là quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam.

Hết năm 2026, Cục Quản lý lao động ngoài nước đặt mục tiêu đưa được khoảng 150.000 người đi làm việc ở nước ngoài. Về dài hạn, thành công không nên chỉ được đo bằng số người xuất cảnh hay lượng kiều hối mang về. Thước đo quan trọng hơn là bao nhiêu lao động sau khi trở về có thể trở thành lực lượng nòng cốt trong các doanh nghiệp, mang theo công nghệ, kỹ năng và tư duy sản xuất hiện đại để góp phần nâng cao năng suất lao động quốc gia.

Theo Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng, mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 không chỉ là duy trì quy mô mà phải nâng cao chất lượng, chuyển mạnh sang lao động có kỹ năng. Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và chuyển đổi số, nguồn nhân lực chất lượng được xem là "mỏ vàng" của mỗi quốc gia. Khi cuộc cạnh tranh giữa các nền kinh tế ngày càng dựa vào chất lượng nguồn nhân lực, hoạt động xuất khẩu lao động cần được nhìn nhận như một chiến lược đầu tư cho con người, để tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam.

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Bài 3: Xuất khẩu lao động - Cơ hội phát triển nhân lực cao

Bài 3: Xuất khẩu lao động - Cơ hội phát triển nhân lực cao

(Thanh tra) - Xuất khẩu lao động không chỉ đơn thuần để có thu nhập cao, mà quan trọng, giúp người lao động trở về với một nghề nghiệp vững vàng, kinh nghiệm làm việc, năng lực quản trị và khả năng tiếp nhận công nghệ - đó mới là giá trị lâu dài đối với quốc gia, và là cơ hội phát triển nhân lực cao.

Thành Công

10:00 29/08/2026

Tin mới nhất

Xem thêm