Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

UNESSCO đã đưa Yên Tử lên website chính đề cử Di sản Thế giới

Thứ bảy, 27/12/2014 - 21:25

Theo ông Hồ Chí Đức, Trưởng Ban Quản lý các Di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh, hiện 2 tỉnh Quảng Ninh và Bắc Giang đã lập hồ sơ đưa danh thắng Yên Tử "ứng thí" trước UNESCO . Được biết, ở thời điểm hiện tại, website chính của UNESCO cũng đã đưa tên Yên Tử vào danh mục các di sản dự kiến sẽ được nộp hồ sơ trong giai đoạn tới.

Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông trên đỉnh An Kỳ Sinh, Yên Tử, ảnh: Trà Vân

Yên Tử được coi là một trong những linh sơn của nước ta. Sách “An Nam chí lược” của Lê Tắc ghi “Núi Yên Tử”: Gọi là Yên Sơn hoặc “Tượng Sơn”, bề cao lên quá từng mây. Đầu niên hiệu Hoàng Hựu, nhà Tống (1049 – 1053), gọi là Xứ Giao Châu, hồi giữa niên hiệu Đại Trung Tường Phù ( 1008 – 1016), triều đình lại ban tên là Tử Y Đông Uyên. Đại sư là Lý Tự Thông có dâng lên vua Hải Nhạc danh sơn đồ và vịnh thơ tán: Phúc địa thứ 4 tại Giao Châu là Yên Tử Sơn.

Tân Kỳ chóp núi nêu vài nụ,

Yểu điệu hình khe trổ một ngành

Tiên cưỡi loan qua ngồi cảnh tịnh,

Người xem rồng xuống giỡn đầm xanh.

Sách Đại Nam Nhất thống chí, mục “núi sông”, phần “tỉnh Hải Dương” chép: “Bài ký “Động thiên phúc địa” của Tôn Quang Đình nhà Đường nói “Núi Yên Tử là một trong 72 phúc địa của nước ta.” Đại Nam Nhất Thống chí nói: “ Núi Yên Tử là nơi đắc đạo của Yên Kỳ Sinh nhà Hán. Năm Tự Đức thứ ba liệt vào hàng danh sơn, chép trong điển thờ ( Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, sđd, tr.395. Sau này, các triều đại phong kiến nước ta đều xếp Yên Tử vào loại “danh sơn”.

Yên Tử không chỉ là một trung tâm văn hóa lớn của nền văn minh Đại Việt, mà còn là một vùng thắng cảnh và địa linh.

Quần thể Di tích và danh thắng Yên Tử đạt các tiêu chí cho đề cử Di sản Văn hóa thế giới:

Cụ thể: Những di tích trên mặt đất và khai quật được trong lòng đất tại Quần thể Di tích và Danh thắng Yên Tử là minh chứng đặc sắc về quá trình giao lưu văn hóa lâu dài, là nơi tiếp nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài, nhiều học thuyết, tư tưởng có giá trị toàn cầu của văn minh nhân loại, đặc biệt Phật giáo, thuyết phong thủy. Kết quả giao thoa, tiếp biến văn hóa đó được biểu đạt trong tạo dựng cảnh quan, qui hoạch, trong nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật trang trí với diễn biến văn hóa đa dạng qua các thời kỳ lịch sử.

Vườn tháp ở Yên Tử, ảnh: Trà Vân

Hệ thống di tích trong khu Danh thắng Yên Tử, bao gồm hàng chục ngôi chùa, hàng trăm am tháp, hàng ngàn di vật cổ quý hiếm, đặc biệt là những bản kinh văn và các bản sách quý hiếm, chứa đựng những giá trị tinh thần, tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm và nền văn hóa huy hoàng, rực rỡ thời Đại Việt giữa một vùng đồi núi trập trùng. Những giá trị tinh thần, tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm và nền văn hóa rực rỡ đó luôn đồng hành cùng sự phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, được các thế hệ nối tiếp kế thừa ngày một phát triển và đang được các thế hệ thiền sư sau này truyền bá đến nhiều quốc gia trên thế giới. Đặc biệt cuốn mộc bản “Thiền tông bản hạnh” hiện còn được lưu giữ tại chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang) được Hội thảo bảo tồn di sản chữ Nôm (theo Vietnamese Nôm Preservation Foundation, USA) lấy làm mẫu cho font chữ Nôm trên mã Unicode (ký hiệu NomNaTongLight.ttf) và được cài đặt vào máy tính trên toàn thế giới. Điểm khác biệt nữa của mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là dùng cả chữ Hán và chữ Nôm, trong khi mộc bản của Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc chỉ dùng chữ Hán…

Quần thể Di tích và danh thắng Yên Tử là minh chứng đặc sắc về sự tương tác giữa con người và môi trường cảnh quan thiên nhiên, truyền thống cư trú liên tục của con người, thể hiện qua việc những tín đồ đạo Phật từ hàng nghìn năm trước tới ngày nay, đã sử dụng vùng cảnh quan thiên nhiên Danh sơn Yên Tử linh thiêng, huyền bí để xây dựng và hình thành nên một “Trung tâm phật giáo” với sự hiện diện của một quần thể các công trình kiến trúc đồ sộ được đặt trong một tổng thể cảnh quan hùng vĩ, thơ mộng. Đặc biệt, phía Tây Yên Tử với diện tích rộng lớn, gồm nhiều thảm thực vật và đặc biệt là hàng loạt công trình kiến trúc, chùa chiền mang dấu ấn Phật giáo thời Lý – Trần, khu vực này cũng in đậm nhiều truyền thuyết liên quan tới Phật hoàng Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm, và sự giao thoa giữa văn hóa cung đình với đồng bào dân tộc thiểu số; giữa các quan lại, công chúa, cung tần, mỹ nữ triều đình với đồng bào dân tộc thiểu số của nước Đại Việt thời đó.

Các tăng, ni cả nước về Yên Tử, ảnh: Trà Vân

Với sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm, một thiền phái thuần Việt. Thiền phái Trúc Lâm là Phật giáo hướng nội, Phật giáo nhập thế, khai phóng, vị tha. Thiền phái Trúc Lâm chủ trương gắn đạo với đời, gắn xu thế nhập thế của Thiền với việc giữ gìn làng nước của cả dân tộc, nó mang đậm bản sắc dân tộc, tinh thần yêu nước chân chính, tinh thần nhập thể tích cực, kết hợp chặt chẽ Đạo với Đời, Đời với Đạo. Giáo lý của Thiền phái Trúc Lâm được kết tinh bởi nhiều yếu tố và kế thừa, phát huy. Trên cơ sở kế thừa, Trần Nhân Tông đã tập hợp lại thành các kinh văn, các bản sách rất quí giá như: Thiền tâm thiết chủy ngữ lục, Đại Hương Hải ấn thi tập, Tăng già toái sự, Thạch thất mỹ Ngữ, Truyền Đăng Lục, Thượng Sĩ hành trạng... Đây là những cuốn sách dạy cho các tăng môn và dân chúng của Thiền phái Trúc Lâm tu tập, sám hối và tu hành thập thiện. Bên cạnh đó còn có các tác phẩm trong mộc bản của Thiền phái Trúc Lâm - sách Thiền tông bản hạnh như: Cư trần lạc đạo phú (ở trần thế vui với đạo) viết theo thể phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca (bài ca về được thú vui rừng suối mà thành đạo của Trần Nhân Tông), Vịnh Hoa Yên tự phú (vịnh cảnh chùa Hoa Yên) của Thiền sư Huyền Quang…Đây là những tác phẩm văn học thiền tông có giá trị và có ảnh hưởng tích cực đến đời sống xã hội và được nhiều nhà nghiên cứu văn học trong và ngoài nước quan tâm tìm hiểu. Mộc bản của Thiền phái Trúc Lâm được khắc bằng chữ Hán và chữ Nôm với nhiều kiểu chữ khác nhau như: chân thư, thảo thư, lệ thư, hành thư…chữ khắc công phu, đẹp là những tác phẩm thư pháp nghệ thuật tuyệt mỹ. Nhiều trang mộc bản được khắc đan xen thêm những bức họa đồ minh họa, đường nét tài hoa tinh tế, bố cục chặt chẽ hài hòa xứng đáng là tác phẩm đồ họa thẩm mỹ cao.

 Địa danh Yên Tử từ ngàn xưa được biết đến và ca ngợi như “phúc địa”, bởi nơi đây có vẻ đẹp hoang sơ kỳ vĩ, huyền bí của thiên nhiên, của cõi thiền xưa ẩn chứa những thông tin về con người và vùng đất thiêng nơi đây. Yên Tử được xem như một bảo tàng sinh thái tự nhiên, với sự đa dạng về hệ sinh thái cảnh quan. Cùng với hệ thống chùa, am, tháp là đường tùng, rừng thông, rừng trúc, rừng mai làm cho Yên Tử càng trở lên tươi đẹp và quyến rũ. Những cảnh trí thiên nhiên, sự linh thiêng huyền bí nơi đây đáp ứng được các yêu cầu xây dựng một Trung tâm Phật giáo. Chính vì vậy mà từ xưa các tín đồ đạo Phật Việt Nam đã đến Yên Tử dựng am cỏ cầu kinh niệm Phật, và từ thế kỷ 10, đạo sĩ An Kỳ Sinh (Yên Kỳ Sinh) đã đến nơi đây tu hành và đắc đạo. Những năm sau đó, nhiều thế hệ tăng ni phật tử Việt Nam tiếp tục tìm đến Yên Tử tu hành, xây dựng chùa tháp và nhiều công trình khác.

 So sánh với các di sản thế giới đã được công nhận như: Vịnh Hạ Long, Thị trấn Hiraizumi; Đồi hoàng gia ở Ambohimanga (Madagasca)… thì khu Danh thắng Yên Tử có đầy đủ tiêu chí để Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo 2 tỉnh: Quảng Ninh và Bắc Giang chủ động trong việc bảo vệ tính nguyên vẹn của Quần thể Di tích và danh thắng Yên Tử.  Thông qua các hành lang pháp lý là các luật có liên quan của Nhà nước, các Nghị định của Chính Phủ như: Luật Di sản Văn hóa, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Du lịch, Luật đa dạng sinh học.

Chính quyền và nhân dân các tỉnh có di sản đã xác định được bảo vệ môi trường, bảo tồn tính nguyên vẹn của khu Di sản là bảo vệ chính cuộc sống của thế hệ hôm nay và mai sau. Chính niềm tin đó sẽ giúp cho chúng ta bảo vệ nguyên vẹn và phát huy tốt những giá trị nổi bật toàn cầu của Quần thể Di tích và danh thắng Yên Tử.

Trà Vân

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Không thể và có thể!

Không thể và có thể!

(Thanh tra) - Bài thơ "Không thể và có thể!" của tác giả Quản Minh Cường là lời tri ân lặng lẽ mà sâu nặng dành cho những anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Giang Nam

08:00 18/07/2026

Tin mới nhất

Xem thêm