Theo dõi Báo Thanh tra trên
Thứ tư, 31/12/2014 - 05:28
(Thanh tra) - “Dải đất hẹp miền Trung phải chịu cảnh mưa chẳng kịp thấm đất, nắng cát bỏng rát người, ruộng cằn toàn sỏi đá. Bởi, chưng đất nghèo, nên tạo cho người Nghệ cái tính hay lam, hay làm. Sáng phải lên rú, xuống lèn, ra sông... tối phải xe tơ, dệt vải, chăng đó, thêu đan. Vất vả là vậy, nên chỉ có câu hò ví dặm làm bầu, làm bạn cho vợi nỗi nhọc nhằn... ”, nhạc sỹ An Thuyên chia sẻ.
Trung tâm Bảo tồn Dân ca xứ Nghệ của Nghệ An tái hiện hát dân ca cho Bác Hồ nghe. Ảnh: Phan Toàn
Có lao động... có hát ví
“Người ơ..., trời xanh, màu áo cũng xanh/ Nong dâu gió thổi, dập dềnh sóng xao/ Chứ bấy lâu xa cách liễu đào/Trồng dâu bên ruộng, ấm lòng buồn dâng”.
Ở xứ Nghệ, nói hát ví là hát chung. Người làm việc theo hình thức nào cũng đều có hát ví: Người cày ruộng có ví đò đưa, người đan lưới có ví dùng đan; người đi hái củi có ví phường củi; người kéo vải có ví phường vải... Ngoài ra, còn có hát ví phường vàng, ví phường nón; ví phường cấy, phường gặt...
Trong các loại hát ví, hát ví phường vải là nổi trội hơn cả. Bởi sự đối đáp thâm thúy và tinh tế.
Không gian diễn xướng của ví phường vải có sự tham gia của các nhà Nho cho nên, nhiều người nghe xong dân ca có nhận xét: Dân ca Nghệ Tĩnh nghe thế nào mà nó rất duyên dáng, trữ tình; nhưng có người bảo nghe nó rất cao sang, nhưng lại rất dân dã.
Không phổ biến ở mọi làng, xã, ví phường vải có mặt ở những nơi có nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải. Ví phường vải thuộc loại ví phong phú, được tổ chức quy củ, phức tạp hơn cả. Một cuộc hát phường vải thường có 3 chặng, chặng 1 có hát dạo, hát chào, hát mừng và hát hỏi; chặng 2 là hát đố hoặc hát đối; chặng 3 gồm hát mời, hát xe kết và hát tiễn. Phải qua một quá trình phát triển lâu dài, mới hình thành được một thủ tục như vậy. Không những có thủ tục mà còn có quy cách, con trai mới đến hát phải đứng ngoài đường, ngoài ngõ; phải qua cái cầu hát đố, hát đối mới được mời vào nhà.
“Tôi tham gia hát phường vải từ khi 13, 14 tuổi. Trong gia đình, anh chị đều hát phường vải. Trong hát phường vải có rất nhiều phường. Một làng như thế có 3 đến 4 phường. Vừa hát, vừa sản xuất trong đêm”, nghệ nhân Nguyễn Thị Hường, thị trấn Nam Đàn, Nghệ An nói.

Dân ca xứ Nghệ tại không gian di sản văn hóa Việt Nam - Asean ở Hội An. Ảnh: Phan Toàn
Nghệ thuật bác học
Ví phường vải khác biệt ở chỗ, có sự xuất hiện của các nhà Nho trong cuộc hát. Thế nên, các cuộc hát phường vải, không còn đóng khung trong hát giao duyên đơn thuần, mà nâng lên thành canh hát có các quy chuẩn. Cùng với đó, lời ca mang tính tri thức văn chương, hàm ý sâu xa, đa nghĩa hơn. Dù chỉ là những cô thôn nữ quê mùa, nhưng các chàng nho sỹ đứng sau lưng hát đều phải kiêng dè trước sự ứng đối trước sự thông minh, tinh tế của chị em phường vải.
Mỗi nơi, mỗi lối hát, ví phương vải, ở Nam Đàn thi lối hát chậm, thâm trầm, lắng đọng; ở Trường Lưu thì lối hát vui vẻ, nhưng không kém phần sâu sắc, uyên thâm: “Người ta xem hát ví là nghệ thuật bác học, nhưng nó vẫn mang tính chất dân ca. Bởi nó giao hòa giữa tri thức và bình dân. Những người chơi là trí thức, còn những gái dệt lụa là bình dân. Vì vậy, đối đáp giữa trí thức và bình dân phải có sự giao cảm tạo ra được không gian văn hóa”, Nhạc sỹ Thanh Lưu nói.
Cũng bởi tài đối đáp tinh tế, chữ nghĩa thông tuệ, uyên thâm của các cô phường vải, mà các anh sỹ tử xứ Nghệ đã phải thốt lên: “Đồn đây có gái hát tài/ Để ta đối địch một vài trống canh/ Dẫu thua, dẫu được cũng đành/ Mõ công đèn sách, học hành bấy lâu”.
Trong những ngôi nhà đơn sơ khắp các nẻo đường miền quê xứ Nghệ, đâu đó, bắt gặp một cuộc sống thanh bạch, giản tiện. Những cụ già bên công việc thường nhật, ngoài câu chuyện thủ thỉ bên chén trà chuyện làng, chuyện xóm, chuyện con cái học hành, là những câu hát ví gợi lại thời son trẻ. “Ơ... cơm em ăn 3 bát, bát ăn, bát để/ Mà đũa em so hai đôi, đôi đứng, đôi nằm/ Ví dù thầy, mẹ có đánh đập chín chục, một trăm/ Chứ đập rồi em đứng dậy, em vẫn nhất tâm thương ơ... chàng”.
Có ý kiến cho rằng, sao không phân biệt một cách rạch ròi giữa ví và dặm. Tuy ví và dặm có cách thức hát khác nhau, nhưng trong ví có dặm, trong dặm có ví. Giống hai bàn tay trên cùng một cơ thể, dẫu cách hát khác nhau nhưng cùng chung thể thức.
Từ xa xưa ví và dặm chẳng thể tách rời, mỗi khi cất lên đều thể hiện tâm thế cho người hát.
Từ Hoành Sơn ra tận Khe Nước Lạnh, hầu như vùng nào trên mảnh đất xứ Nghệ cũng đều có những làng, những người say sưa với hát ví, hát dặm. Nơi nào có lao động là nơi đó có ví dặm. Đâu đâu cũng có thể nghe thấy tiếng ví dặm. Hát trong nhà, ngoài sân, hát giữa đồng, giữa nắng chói chang... Người ta hát cho quên mệt nhọc, hát cho vợi nỗi buồn, hát để chống chọi với cam khổ... Hát ví dặm là thổ sản của riêng người Nghệ, chỉ vùng Nghệ Tĩnh mới có.
Có ai đó nói rằng, người Nghệ nổi tiếng là gàn, bởi “đã thương là thương cho chắc/ đã trục trặc thì trục trặc cho luôn”.
Lời yêu, tiếng ghét luôn tỏ tường phân minh. Thế nhưng, nhà thơ Huy Cận đã thảng thốt: “Tình xứ Nghệ không mau, nhưng bén rồi sâu lắng, để rồi sau đó nghe câu hò ví dặm càng lắng, lại càng thương. Câu ví dặm luôn đồng hành cùng người xứ Nghệ đi suốt chiều dài lịch sử”.
Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây/ Sông Lam hết nước, đó với đây mới hết tình...
Trà Vân
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Bài thơ "Không thể và có thể!" của tác giả Quản Minh Cường là lời tri ân lặng lẽ mà sâu nặng dành cho những anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Giang Nam
(Thanh tra) - Đúng 5h sáng ngày 27/7 /2026, các chùa, cơ sở tự viện trên cả nước đồng loạt cử hành ba hồi chuông, trống bát nhã để tưởng niệm, tri ân các Anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
T.Vân
Phương Hiếu
Minh Nghĩa
Chu Tuấn
PV
Trần Kiên
Phú Đức
Đan Quế
Kỳ Phương
Thanh Nhung
Nguyễn Thanh
Hoàng Hưng
Thái Hải