Theo dõi Báo Thanh tra trên
Thứ năm, 04/04/2013 - 12:49
(Thanh tra) - Gần đây, Ban Biên tập Báo Thanh tra nhận được đơn của vợ chồng cụ Phạm Văn Gang cùng 4 người con, trú tại số 7 tổ 1, phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội tố cáo Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội đã căn cứ vào hồ sơ giả do UBND TP Hà Nội xây dựng để bao che cho vụ tham nhũng 3.600 lượng vàng xảy ra tại quận Hai Bà Trưng. Xem xét kỹ đơn và các tài liệu liên quan, chúng tôi nhận thấy, cần một quyết định công minh của Viện trưởng Viện KSND Tối cao để những “khoảng tối” trong tranh chấp 1.500m2 đất vàng trên mặt đường Trần Khát Chân được sáng tỏ!
20 năm đi đòi đất
Từ năm 2003, vợ chồng cụ Phạm Văn Gang, Phạm Thị Sính cùng các con Phạm Văn Chính, Phạm Thị Tính, Phạm Văn Bính, Phạm Thị Sinh (gọi tắt là gia đình cụ Gang) có đơn khởi kiện UBND TP Hà Nội tại Quyết định số 1042/QĐ-UB ngày 21/3/1996 về việc thu hồi 1.500m2 đất giao cho Cty Xuất nhập khẩu chè (Tổng Cty Chè Việt Nam) thuê với thời hạn 30 năm.
Theo ông Nguyễn Hữu Thanh, người đại diện theo ủy quyền cho gia đình cụ Gang: Năm 1949, vợ chồng cụ Gang khai hoang và tạo lập căn nhà trên diện tích đất 3.022m2 tại vị trí tổ 1, phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Năm 1987, 1990, vợ chồng cụ Gang chia cho các con đã lập gia đình mỗi người một ô đất, trên đó đã trồng cây ăn quả và làm nhà cấp 4 để ở. Năm 1988, gia đình cụ Gang và các con đã kê khai quyền sở hữu nhà ở và sử dụng đất tại UBND phường Thanh Nhàn.
Ngày 15/8/1993, đại diện Ban Quản lý công trình xây dựng quận Hai Bà Trưng và công an phường Thanh Nhàn đã đến gia đình cụ Gang thông báo về việc Nhà nước thu hồi đất và lập biên bản xác nhận nhà và đất của gia đình đủ điều kiện được đền bù. Trong tổng số trên 3.000m2 đất, gia đình cụ chỉ còn 170m2 vì Nhà nước thu hồi trên 2.800m2 để thực hiện 3 dự án: Dự án mở rộng đường (lòng đường) Trần Khát Chân, dự án khu di dân tái định cư Trần Khát Chân và dự án hai bên đường Trần Khát Chân. Ngoài ra, gia đình cụ cũng mất 38m2 đất để mở rộng ngõ 343 đi vào khu di dân Trần Khát Chân.
Dù chưa nhận đền bù, gia đình cụ Gang đã tự nguyện phá dỡ nhà, chặt cây để bàn giao mặt bằng cho Ban Quản lý công trình xây dựng quận Hai Bà Trưng. Tuy nhiên, gia đình cụ Gang chỉ nhận được tiền đền bù của 2 dự án. Riêng dự án hai bên đường Trần Khát Chân do là có mục đích kinh doanh nên tiền đền bù không thuộc diện chi trả bằng ngân sách Nhà nước. 1.355,3m2 đất ở và tài sản trên đất của gia đình cụ Gang cho dự án này cũng vì vậy chưa được nhận đền bù.
Đến ngày 15/5/1995, Viện KSND Tối cao ra kháng nghị đối với quyết định thu hồi đất của UBND TP Hà Nội để phục vụ dự án hai bên đường Trần Khát Chân. Sau đó, gia đình cụ Gang đã làm lại nhà trên diện tích trên 1.355m2 đất nói trên để sinh sống. Toàn bộ diện tích đất còn lại này, gia đình cụ Gang nộp thuế sử dụng đất đầy đủ đến năm 2002.
Đùng một cái, năm 1996, UBND quận Hai Bà Trưng buộc gia đình cụ Gang và các con phải phá dỡ nhà để bàn giao mặt bằng 1.355m2 cho Cty Xuất nhập khẩu chè. Gia đình cụ Gang phản đối và qua tìm hiểu mới được biết, UBND TP Hà Nội đã ban hành Quyết định 1042 thu hồi 1.500m2 đất nông nghiệp của Hợp tác xã (HTX) Nông nghiệp Đồng Thanh giao cho Cty Xuất nhập khẩu chè thuê 30 năm. Hợp đồng kinh tế số 9310 giữa Ban Quản lý công trình xây dựng quận Hai Bà Trưng và Cty Cổ phần phát triển đô thị Hà Thành với Cty Xuất nhập khẩu chè được ký kết từ ngày 29/9/1993!
Từ đây, gia đình cụ Gang liên tục khiếu nại và khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích của mình liên quan đến trên 1.355m2 đất tại 347 Trần Khát Chân!
"Bỏ nhỏ" đề nghị của đại diện Viện KSND Tối cao
Thay vì làm rõ quá trình trên đúng hay sai, Bản án phúc thẩm hành chính số 22 của TAND Tối cao - Tòa phúc thẩm tại Hà Nội (xét xử ngày 27/2/2013) xác định: Theo sổ kiến điền 1959 (?) kèm theo bản đồ số 1 lưu giữ tại Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, khu đất nói trên gồm: 30m2 đất ao thuộc thửa số 44 của ông Nguyễn Văn Bảnh, 45m2 đất ao thuộc thửa số 71 của ông Nguyễn Văn Quý, 1.425m2 đất ao thuộc thửa số 70 mang tên đồng sử dụng là các ông, bà: Đoàn Thị Khung, Lương Thị Tý, Đồng Thị Hợp, Nguyễn Thị Ny, Lê Thị Mộc, Nguyễn Thị Út và Nguyễn Thị Mười.
Theo Biên bản đại hội xã viên HTX Nông nghiệp Đồng Thanh ngày 29/7/2001 và báo cáo của Chủ nhiệm HTX thì năm 1967, các ông bà trên đã đưa đất vào HTX Thanh Nhàn quản lý. Năm 1970, sáp nhập các HTX Thanh Nhàn, Thanh Lương và Bạch Đằng thành HTX Nông nghiệp Đồng Thanh. Từ đó, HTX Nông nghiệp Đồng Thanh sử dụng diện tích này. Trong diện tích này, vợ chồng ông Phạm Văn Gang và các con Phạm Thị Tính, Phạm Thị Sinh chỉ sử dụng 462m2 đất ao của HTX Nông nghiệp Đồng Thanh.
Do đó, UBND quận Hai Bà Trưng đã có Quyết định số 39 ngày 24/2/1993 giao cho Ban Quản lý các công trình xây dựng quận tổ chức giải phóng mặt bằng. HTX Nông nghiệp Đồng Thanh đã nhận đền bù và giao đất. Ông Gang và những người khởi kiện khác không có giấy tờ sử dụng hợp pháp. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận đơn của gia đình ông Phạm Văn Gang khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 1042 là có căn cứ nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm quyết định bác kháng cáo của gia đình cụ Phạm Văn Gang, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.
Chúng tôi chỉ xin lưu ý, ngay tại phiên phúc thẩm này, trước khi TAND Tối cao - Tòa phúc thẩm tại Hà Nội tuyên bản án trên, đại diện Viện KSND Tối cao đã đề nghị "Hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo khoản 3 Điều 205 Bộ luật Tố tụng Hành chính với lý do về chứng cứ như sổ kiến điền và một số tài liệu khác chưa được thu thập theo đúng qui định của pháp luật, vi phạm khoản 1 Điều 76 của Luật Tố tụng Hành chính; chưa xác định rõ đất của gia đình ông Gang hay của HTX Nông nghiệp Đồng Thanh". Tuy nhiên, đề nghị này đã không được xem xét!
Nhiều sai lầm nghiêm trọng!
Theo ông Nguyễn Hữu Thanh, chứng cứ đầu tiên và quan trọng nhất mà TAND Tối cao - Tòa phúc thẩm tại Hà Nội phúc thẩm căn cứ để kết luận là một sai lầm nghiêm trọng. Bởi lẽ, sổ kiến điền năm 1959 mà Tòa án căn cứ là một tài liệu giả mạo. Trong thực tế, sổ kiến điền chỉ được ban hành ở chế độ cũ (thời Pháp thuộc), là một loại sổ sách của Nhà nước cũ để quản lý về đất đai, tương tự như sổ mục kê sau này mà chúng ta biết. Còn chứng thư kiến điền là loại giấy tờ cấp cho người sở hữu đất trong chế độ cũ (Pháp thuộc), tương đương với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay. Do vậy, năm 1959, Hà Nội không thể còn sổ kiến điền vì đã được giải phóng năm 1954. Đây chỉ có thể là sổ mục kê. Và, tại sổ kiến điền năm 1959 giả mạo này, các số liệu cũng hoàn toàn khác so với các số liệu bản án phúc thẩm công bố. Theo đó, thửa số 44 là của ông Nguyễn Văn Bảnh, sinh năm 1899, diện tích ao 862m2; thửa số 71 của ông Nguyễn Văn Quý, sinh năm 1922, diện tích ao 1.540m2; thửa số 70 là của Đoàn Thị Khoắt, Đào Thị Khung, Lương Thị Tý, Lê Thị Mộc, Đồng Thị Hợp, Nguyễn Thị Nỹ, Nguyễn Thị Út, Nguyễn Thị Mười, diện tích ao 6.921m2. Tổng diện tích của 3 thửa nói trên là 9.323m2, không phải 1.500m2.
Mặt khác, Tòa án không xác định mục đích sử dụng đất bị thu hồi theo Quyết định 1042 nên thẩm quyền thu hồi đất không xác định được. Vì, đất của gia đình cụ Gang là đất ở tại đô thị, thuộc thẩm quyền thu hồi đất của UBND TP Hà Nội. Đất của HTX Nông nghiệp Đồng Thanh thì thẩm quyền thu hồi là của UBND quận Hai Bà Trưng. Do vậy, Tòa án không tuyên hủy Quyết định 1042 là tự mâu thuẫn.
Ở một diễn biến khác, kháng nghị của Chánh án TAND Tối cao trước đó đối với Quyết định hành chính phúc thẩm số 35/2008 ngày 30/1/2008 của Tòa phúc thẩm - TAND Tối cao tại Hà Nội cũng xác định rõ: Bản đồ qui hoạch do Kiến trúc Sư trưởng TP ký ngày 8/2/1993 và Biên bản ngày 29/10/2009 về việc xác định đất do gia đình ông Phạm Văn Gang đang sử dụng thấy rõ, trong số 1.500m2 đất mà UBND TP Hà Nội thu hồi theo Quyết định số 1042 ngày 21/3/1996 có đất do gia đình ông Gang sử dụng trước đây".
Cũng theo ông Thanh, Quyết định của bản án sơ thẩm 04/2012/HCST áp dụng các Điều 24, 28 Luật Đất đai 1993; Điều 28, 29 Nghị định 88/CP-NĐ ngày 17/8/1994 của Chính phủ; Bản án phúc thẩm áp dụng Điều 28, 29 Nghị định 88, đều là áp dụng không đúng luật.
Do vậy, gia đình cụ Phạm Văn Gang và dư luận rất mong Viện trưởng Viện KSND Tối cao căn cứ Điều 211, Điều 210, Điều 227 Luật Tố tụng Hành chính để hủy bản án nói trên, xét xử lại sơ thẩm so sai lầm trong việc đánh giá chứng cứ dẫn tới kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án.
Chúng tôi sẽ tiếp tục trở lại câu chuyện tranh chấp 1.500m2 đất vàng này với nhiều tình tiết khác liên quan.
Đan Quế
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Sau phản ánh liên quan đến dự án Làng sinh thái Mù Cang Chải, UBND tỉnh Lào Cai quyết định thành lập 2 tổ công tác có sự tham gia của Thanh tra tỉnh để kiểm tra toàn diện các cơ sở hoạt động lưu trú, homestay trên địa bàn.
Đăng Tân
(Thanh tra) - Lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ, sản phẩm công việc làm căn cứ chủ yếu trong đánh giá; thực hiện đánh giá thường xuyên theo quý; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số; lượng hóa kết quả thực hiện nhiệm vụ bằng các tiêu chí cụ thể… là những nội dung nổi bật của Quy chế đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức, cá nhân của Thanh tra Chính phủ, vừa được ban hành kèm theo Quyết định số 662/QĐ-TTCP của Tổng Thanh tra Chính phủ.
Phương Hiếu
Phương Hiếu
Trần Kiên
Thái Hải
Phương Hiếu
Đông Hà
Thanh Lương
Hải Hà
PL-BĐ
Đăng Tân
Cảnh Nhật
Văn Thanh
Thư Kỳ
Thanh Lương
Hải Hà
Văn Thanh
Nguyễn Thanh