Theo dõi Báo Thanh tra trên
Thứ sáu, 02/08/2013 - 10:11
(Thanh tra)- Ông Trịnh Văn Nhơn, ngụ số 265, tổ 13, ấp Đông Phú 1, xã Vĩnh Thành, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, tranh chấp diện tích 57,08m2 đất đối với ông Nguyễn Văn Cừ.
Nguồn gốc 57,08m2 đất bờ tre tranh chấp là của ông Đoàn Văn Chữ, tọa lạc ấp Đông Phú 1, xã Vĩnh Thành, huyện Châu Thành.
Ngày 30/10/1989, ông Chữ làm giấy tay sang nhượng một phần đất thổ cư cho bà Lý Thị Nho, giá 5 chỉ vàng 24K. Giấy sang nhượng ghi: “Nền thổ cư từ mé sông chạy đến đất ruộng”.
Năm 1991, bà Nho sang nhượng phần đất này cho ông Nguyễn Văn Cừ, giá 7 chỉ vàng 24K (giấy tờ mua bán tay).
Khoảng năm 1999, ông Trịnh Văn Nhơn (hộ giáp ranh) tranh chấp phần đất bờ tre với ông Cừ vì cho rằng trước khi ông Chữ bán đất cho bà Nho, ông Chữ đã cho ông Nhơn 1 bờ tre, còn lại 1 bờ tre và 1 cái hầm ông Chữ bán cho ông Nhơn giá 5 phân vàng 24K (không làm giấy tờ).
Ông Cừ không thống nhất với ý kiến trên của ông Nhơn và cho rằng, vào năm 1991, ông Cừ mua đất của bà Nho là mua luôn phần đất bờ tre đang tranh chấp, từ đó ông Cừ sử dụng cho đến nay. Tuy tre là do ông Chữ trồng nhưng ông Cừ có chở đất bồi đắp gốc tre.
Ngày 31/8/2000, UBND huyện Châu Thành ban hành Quyết định số 944/QĐ.UB: Bác yêu cầu khiếu nại của ông Trịnh Văn Nhơn; giữ nguyên hiện trạng phần đất tranh chấp cho ông Nguyễn Văn Cừ sử dụng.
Ông Nhơn khiếu nại đến UBND tỉnh yêu cầu sử dụng 2 bụi tre gắn liền với bờ đất tranh chấp.
Tại thời điểm này, do nhận thấy việc ông Nhơn tranh chấp quyền sở hữu cây trồng gắn liền với quyền sử dụng đất (SDĐ) là thuộc thẩm quyền xét xử của TAND nên Thanh tra tỉnh hướng dẫn vụ việc tranh chấp về UBND huyện Châu Thành giải quyết lại.
Ngày 4/6/2002, UBND huyện Châu Thành ban hành Quyết định số 251/QĐ.UB: Thu hồi Quyết định số 944/QĐ.UB, ngày 31/8/2000 của UBND huyện Châu Thành. Lý do ông Nhơn thay đổi yêu cầu khiếu nại: Khiếu nại 2 bụi tre, cây lâu năm gắn liền với đất. Nếu đương sự có yêu cầu giải quyết thì khởi kiện tại TAND huyện Châu Thành để được giải quyết theo thẩm quyền.
Ông Nhơn khởi kiện đến TAND huyện Châu Thành.
Ngày 26/8/2010, TAND huyện Châu Thành ký Thông báo số 1254/2010/TB-TA trả lại đơn khởi kiện, lý do: Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án, người khởi kiện chưa có các loại giấy tờ theo qui định tại điều 50 Luật Đất đai năm 2003.
Năm 2010, ông Cừ có đơn phát sinh thêm nội dung tranh chấp với ông Nhơn phần ranh đất thổ cư phía trước cùng với phần đất bờ tre nêu trên.
UBND huyện Châu Thành tiếp tục giải quyết vụ việc.
UBND huyện đã xác minh một số hộ sống tứ cận có hiểu biết phần đất tranh chấp thể hiện nguồn gốc đất này trước đây của ông Chữ, ông Chữ có đào mương đắp lên hai bờ trồng tre phía sau hậu đất của ông Nhơn dài ra đến đất ruộng. Sau này, ông Chữ sang nhượng toàn bộ đất gồm phần đất giáp nhà và 2 bờ tre cho bà Nho; ông Chữ đi nơi khác sống. Sau đó, bà Nho sang nhượng toàn bộ khu đất này lại cho ông Cừ. Quá trình sử dụng ông Cừ có chở đất bồi đắp bờ tre.
Biên bản đo đạc ngày 26/10/2010, ông Cừ và ông Nhơn thống nhất xác định mốc ranh phần đất thổ cư phía trước như sau: Từ mốc ranh hiện tại dời sang đất của ông Cừ 0,5m, 2 bên đã thống nhất cắm xong trụ ranh. Riêng phần đất bờ tre 57,08m2 vẫn tiếp tục tranh chấp và 2 bên đều yêu cầu được sử dụng.
Biên bản đối thoại ngày 3/6/2011: Ông Cừ khẳng định phần đất tranh chấp bà Nho đã chuyển nhượng cho ông, ông có quá trình bồi đắp và sử dụng phần bờ tre này. Ông Nhơn thống nhất với ông Cừ ranh phần đất thổ cư phía trước, còn phần bờ tre ông yêu cầu được sử dụng vì trước đây ông có quá trình đào đắp. UBND huyện Châu Thành kết luận: Phần đất bờ tre tranh chấp hiện không có giấy tờ xác định nguồn gốc đất nên việc giải quyết là xem xét quá trình SDĐ, kết quả xác minh thể hiện ông Cừ có quá trình sử dụng. Do đó, công nhận việc thỏa thuận xác định ranh đất thổ cư giữa ông Nguyễn Văn Cừ với ông Trịnh Văn Nhơn, theo sơ đồ bản gốc trích đo ngày 8/4/2011 gồm các điểm 14, 10, 5, 6; giữ nguyên hiện trạng phần đất cây lâu năm đang tranh chấp cho ông Nguyễn Văn Cừ sử dụng theo sơ đồ bản gốc trích đo ngày 8/4/2011, gồm các điểm 5, 6, 7, 8… (diện tích 57,08m2).
Ngày 16/6/2011, UBND huyện Châu Thành ban hành Quyết định số 4344/QĐ-UBND: Công nhận việc thỏa thuận ranh đất thổ cư giữa ông Nguyễn Văn Cừ với ông Trịnh Văn Nhơn theo sơ đồ bản gốc trích đo ngày 8/4/2011 gồm các điểm 14, 10, 5, 6 (từ mốc ranh hiện tại dời sang đất của ông Cừ 0,5m); giữ nguyên hiện trạng phần đất tranh chấp cho ông Nguyễn Văn Cừ sử dụng theo sơ đồ bản gốc trích đo ngày 8/4/2011, gồm các điểm 5, 6, 7, 8… (diện tích 57,08m2).
Ngày 5/7/2011, ông Nhơn khiếu nại đến UBND tỉnh yêu cầu được công nhận quyền sử dụng phần đất bờ tre 57,08m2.
Biên bản làm việc ngày 26/10/2011, ông Cừ xác định ông mua đất của bà Nho năm 1991 có phần đất 2 bờ tre, ông Cừ sử dụng đến năm 1999 thì ông Nhơn tranh chấp.
Biên bản đối thoại UBND tỉnh ngày 17/4/2013: Ông Trịnh Văn Nhơn ủy quyền cho ông Trịnh Văn Được đại diện (theo giấy ủy quyền ngày 20/8/2010) trình bày: Phần đất tranh chấp do cha tôi mua của ông Chữ, không có giấy tờ mua bán, đề nghị xác minh thêm về việc bán phần đất cho gia đình tôi và ông Chữ, không đồng ý nội dung giải quyết tại Quyết định số 4344/QĐ-UBND, ngày 16/6/2011 của UBND huyện Châu Thành, yêu cầu được quyền sử dụng phần đất bờ tre diện tích 57,08m2. Ý kiến UBND huyện Châu Thành: Hai bên SDĐ không có giấy tờ, việc mua bán không rõ ràng, hiện ranh đất 2 bên đã sử dụng ổn định. Kết quả xác minh cho thấy ông Cừ là người có quá trình sử dụng phần đất bờ tre. Quyết định số 4344/QĐ-UBND của UBND huyện đã giải quyết phù hợp với pháp luật. UBND tỉnh An Giang kết luận: Quyết định số 4344/QĐ-UBND, ngày 16/6/2011 của UBND huyện Châu Thành đã giải quyết hợp tình hợp lý, buổi đối thoại hôm nay gia đình ông Nhơn không cung cấp được tình tiết mới, do đó yêu cầu khiếu nại của gia đình ông Nhơn xin công nhận sử dụng phần đất bờ tre diện tích 57,08m2 là không có cơ sở xem xét.
Căn cứ các quy định của pháp luật và diễn biến vụ việc cũng như quá trình thẩm tra, xác minh, giải quyết của cơ quan chức năng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Lê Văn Nưng kết luận: Đối với phần đất thổ cư, ông Nhơn và ông Cừ đã thống nhất cắm trụ ranh nên UBND huyện Châu Thành giải quyết công nhận ranh đất theo kết quả thỏa thuận này là phù hợp. Riêng phần đất 57,08m2 bờ tre, tuy có nguồn gốc của ông Chữ, nhưng ông Chữ đã chuyển nhượng cho bà Nho, sau đó bà Nho chuyển nhượng lại cho ông Cừ. Kết quả xác minh thể hiện ông Cừ là người có quá trình sử dụng và bồi đắp phần đất bờ tre này. Do đó, Quyết định số 4344/QĐ-UBND, ngày 16/6/2011 của UBND huyện Châu Thành giải quyết giữ nguyên hiện trạng sử dụng phần đất 57,08m2 tranh chấp cho ông Nguyễn Văn Cừ là có cơ sở.
Xét Tờ trình số 14/TT-P3 ngày 6/6/2013 của Thanh tra tỉnh về việc đề nghị ký quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, tại Văn bản số 18/QĐ-UBND, ngày 12/6/2013, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Lê Văn Nưng đã công nhận và giữ nguyên Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai lần đầu số 4344/QĐ-UBND ngày 16/6/2011 của UBND huyện Châu Thành; giao UBND huyện Châu Thành tổ chức thực hiện Quyết định số 4344/QĐ-UBND ngày 16/6/2011 của UBND huyện Châu Thành về việc giải quyết đơn tranh chấp đất của ông Nguyễn Văn Cừ.
Bác yêu cầu tranh chấp của ông Trịnh Văn Nhơn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang nhấn mạnh đây là quyết định giải quyết tranh chấp đất đai cuối cùng. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp này, ông Nhơn có quyền khởi kiện vụ án hành chính theo qui định của Luật Tố tụng hành chính năm 2010 hoặc khiếu nại theo quy định của pháp luật.
Thành Long
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Kết luận thanh tra của Thanh tra tỉnh Điện Biên đã chỉ ra hàng loạt tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý tài chính, thực hiện quy chế, công khai ngân sách tại các cơ sở giáo dục thuộc UBND phường Điện Biên Phủ giai đoạn 2023 - 2024, đồng thời kiến nghị xử lý trách nhiệm, thu hồi hơn 222 triệu đồng sai phạm.
Trần Kiên
(Thanh tra) - Kết luận thanh tra của Thanh tra An toàn bức xạ và hạt nhân cho thấy, Công ty TNHH Khai thác Chế biến Khoáng sản Núi Pháo (Thái Nguyên) đã cơ bản chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về an toàn bức xạ và hạt nhân trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn một số tồn tại cần sớm khắc phục nhằm bảo đảm tuyệt đối an toàn trong lĩnh vực đặc thù này.
Trí Vũ
Trần Quý
Minh Nghĩa
Trần Kiên
Trung Hà
Nam Dũng
Trọng Tài
Dương Nguyễn
Văn Thanh
Bùi Bình
Đan Quế
Thanh Lương
Trần Kiên
Minh Nguyệt
Thái Hải