Theo dõi Báo Thanh tra trên
Ths Nguyễn Mai Anh, Trường Cán bộ Thanh tra – Thanh tra Chính phủ
Chủ nhật, 04/10/2026 - 08:00
(Thanh tra) - Hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định chính thức, cụ thể về việc xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) đối với hành vi vi phạm quy định về PCTN của công ty đại chúng.
PCTN khu vực ngoài Nhà nước được quy định lần đầu tiên tại Luật PCTN năm 2018. Tuy nhiên, cho đến nay, các quy định chưa thực sự có những bước tiến lớn hơn nhằm đẩy mạnh việc nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp ngoài Nhà nước nói chung, nhóm doanh nghiệp dễ xảy ra tình trạng tham nhũng như công ty đại chúng nói riêng. Với tư cách là một giải pháp vừa mang tính phòng ngừa, vừa mang tính xử lý, xử phạt VPHC đối với hành vi vi phạm quy định về PCTN của công ty đại chúng cần được nghiên cứu để ứng dụng.
Luật PCTN năm 2018 là văn bản đầu tiên của Việt Nam ghi nhận và đưa khái niệm “khu vực ngoài Nhà nước” vào các quy định thực định kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng (UNCAC) vào tháng 6/2009, đánh dấu việc đã mở rộng phạm vi điều chỉnh của pháp luật PCTN sang khu vực ngoài Nhà nước. Hiện nay, chế định này gồm hai nhóm quy định: nhóm quy định mang tính bắt buộc và nhóm quy định mang tính khuyến nghị.

Đồ hoạ: Bảo Anh
Nhóm 1: Những quy định áp dụng bắt buộc đối với công ty đại chúng nhằm PCTN.
Nội dung này nằm tại Mục 2, Chương VI Luật PCTN gồm ba quy định chính:
Một là, thực hiện quy định về công khai, minh bạch: Người đứng đầu công ty đại chúng có trách nhiệm tổ chức thực hiện công khai, minh bạch về tổ chức và hoạt động của công ty mình trừ các bí mật Nhà nước, bí mật kinh doanh một cách rõ ràng, chính xác, đầy đủ kịp thời.
Các nội dung phải công khai bao gồm: (i) Việc thực hiện chính sách, pháp luật có nội dung liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động; (ii) công tác tổ chức nhân sự; (iii) các quy định khác mà pháp luật chuyên ngành quy định như pháp luật về chứng khoán, về kinh doanh bất động sản, về kinh doanh bảo hiểm…
Hình thức công khai có thể lựa chọn một hoặc một số các hình thức tại Điều 11 Luật PCTN bao gồm: (i) Niêm yết tại trụ sở công ty; (ii) thông báo bằng văn bản đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan; (iii) phát hành ấn phẩm; (iv) thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng; (v) đăng tải trên cổng thông tin, trang thông tin điện tử; (vi) tổ chức họp báo; (viii) có thể lựa chọn thêm hình thức: công bố trong cuộc họp công ty hoặc cung cấp thông tin theo yêu cầu.
Hai là, kiểm soát xung đột lợi ích. Người được giao thực hiện nhiệm vụ trong công ty đại chúng nếu biết hoặc buộc phải biết nhiệm vụ được giao có xung đột lợi ích thì phải báo cáo người quản lý mình để xem xét, xử lý.
Các cá nhân thuộc công ty đại chúng khi phát hiện có xung đột lợi ích thì phải thông tin, báo cáo cho người trực tiếp quản lý, sử dụng người đó để xem xét, xử lý.
Người trực tiếp quản lý, sử dụng người có xung đột lợi ích và nếu thấy việc tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, công vụ không bảo đảm tính đúng đắn, khách quan, trung thực thì phải xem xét, áp dụng một trong các biện pháp là: (i) Giám sát việc thực hiện nhiệm vụ được giao; (ii) đình chỉ, tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ; (iii) tạm thời chuyển người có xung đột lợi ích sang vị trí công tác khác.
Ba là, thực hiện trách nhiệm và xử lý trách nhiệm của người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu.
Người đứng đầu công ty theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (có thể có một người là Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc hoặc cả hai/ba người).
Người đứng đầu công ty đại chúng phải chịu trách nhiệm trực tiếp khi để xảy ra tham nhũng của người do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ. Trong trường hợp, người đứng đầu quản lý trực tiếp mà cấp phó phụ trách lĩnh vực giao nhiệm vụ thì cấp phó phải chịu trách nhiệm trực tiếp khi để xảy ra tham nhũng trong lĩnh vực công tác và bộ phận do mình phụ trách và người đứng đầu công ty đại chúng cũng phải chịu trách nhiệm liên đới.
Trường trường hợp mà họ không thể biết hoặc đã áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi tham nhũng thì sẽ được xem xét loại trừ trách nhiệm trong trường hợp; hoặc trường hợp họ đã áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng hoặc đã chủ động, kịp thời phát hiện, báo cáo và xử lý tham nhũng theo quy định của pháp luật thì sẽ được xem xét miễn hoặc giảm trách nhiệm.
Ngược lại, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu có thể bị xem xét tăng trách nhiệm trong trường hợp phát hiện hành vi tham nhũng mà không áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng hoặc không kịp thời báo cáo, xử lý tham nhũng theo quy định của pháp luật.
Nhóm 2: Những quy định áp dụng khuyến nghị, tuỳ nghi đối với công ty đại chúng nhằm PCTN.
Một là các công ty đại chúng được pháp luật khuyến khích thực hiện các biện pháp xây dựng văn hoá kinh doanh lành mạnh thông qua việc xây dựng và thực hiện quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc đạo đức kinh doanh và quy tắc ứng xử, cơ chế kiểm soát nội bộ được quy định tại Điều 78 và 79 Luật PCTN.
Hai là, công ty đại chúng có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan thanh trong hoạt động thanh tra trách nhiệm về PCTN đối với doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước. Bởi Luật PCTN và nghị định hướng dẫn thi hành đã đề cập tới thẩm quyền, của các cơ quan thanh tra trong việc tiến hành thanh tra đối với các doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước khi có căn cứ cho rằng có dấu hiệu thực hiện không đúng quy định về các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, bao gồm: Không ban hành quy định; không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các biện pháp theo quy định; có thực hiện nhưng không kiểm tra, giám sát việc thực hiện theo quy định hoặc có phản ánh, tố cáo về hành vi vi phạm trong việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng.

Đồ hoạ: Bảo Anh
Thứ nhất, chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định chính thức, cụ thể về việc xử phạt VPHC đối với hành vi vi phạm quy định về PCTN của công ty đại chúng.
Hiện nay mới chỉ có các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng xuất phát từ những hành vi vi phạm gây thiệt hại tới lợi ích của doanh nghiệp; các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định các chế tài đối với tội phạm tham nhũng. Như đã phân tích ở trên, trong tất cả các quy định bắt buộc và khuyến nghị, tuỳ nghi của Luật PCTN cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành của Luật này, hiện nay chưa có một quy định cụ thể nào về việc xử phạt VPHC đối với hành vi vi phạm pháp luật về PCTN trong doanh nghiệp ngoài Nhà nước nói chung, công ty đại chúng nói riêng.
Trong một số văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành đã có những quy định về xử lý vi phạm đối với các công ty đại chúng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh tuy nhiên lại chưa có những biện pháp trực tiếp xử phạt hành chính đối với hành vi hành vi vi phạm pháp luật về PCTN.
Ví dụ như Nghị định số 156/2020/NĐ-CP ngày 01/01/2021 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 306/2025/NĐ-CP) về xử phạt VPHC lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán phái sinh thì có quy định các hình thức xử phạt vi phạm về công khai thông tin đối với công ty đại chúng nhưng các quy định này tập trung vào mục đích làm “trong sạch” thị trường chứng khoán là chính.
Trong khi đó PCTN đối với công ty đại chúng lại đòi hỏi phải có những chế tài đối với những khía cạnh khác nhằm phòng ngừa từ sớm, từ xa những hành vi có thể gây ảnh hưởng tới “sức khoẻ” của công ty đại chúng, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư và đảm bảo tính liêm chính của môi trường kinh doanh.
Một trong các nguyên tắc của xử phạt VPHC là: “Chỉ xử phạt VPHC khi có hành vi VPHC do pháp luật quy định”. Việc thiếu vắng quy định xử phạt VPHC điều chỉnh trực tiếp đối với các công ty đại chúng và cá nhân trong các công ty này có hành vi vi phạm pháp luật PCTN dẫn tới không thể tiến hành xử phạt VPHC, từ đó giảm tính răn đe, phòng ngừa, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện các quy định PCTN khu vực ngoài Nhà nước trong thực tiễn.
Thứ hai, chưa có quy định về trình tự, thủ tục thanh tra, kiểm tra trách nhiệm việc thực hiện pháp luật về PCTN đối với công ty đại chúng.

Đồ hoạ: Bảo Anh
Theo quy định tại Điều 60 Nghị định 59/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bới Nghị định 184/2026/NĐ-CP), trình tự, thủ tục, thời hạn tiến hành thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về PCTN được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra. Hiện tại, chưa có văn bản hướng dẫn của Luật Thanh tra năm 2025 quy định chi tiết về nội dung này. Kể cả trước đây, văn bản hướng dẫn của Luật Thanh tra năm 2022 là Thông tư số 07/2024/TT-TTCP ngày 1/7/2024 của Thanh tra Chính phủ quy định về thẩm quyền, nội dung thanh tra trách nhiệm thực hiện các quy định về thanh tra, tiếp công dân, khiêu nại, tố cáo và PCTN thì phạm vi thanh tra chỉ hướng tới doanh nghiệp Nhà nước, trách nhiệm thực hiện pháp luật về PCTN, trình tự, thủ tục, xử lý vi phạm khi thanh tra phát hiện doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước có hành vi vi phạm thì chưa được quy định cụ thể mà lại dẫn chiếu ngược lại quy định tại Nghị định 59/2019/NĐ-CP.
Như vậy, từ Luật Thanh tra năm 2022 đến Luật Thanh tra năm 2025 có hiệu lực thi hành, cũng vẫn chưa có văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục thanh tra, kiểm tra trách nhiệm việc thực hiện pháp luật về PCTN đối với doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài Nhà nước nói chung, công ty đại chúng nói riêng. Kể cả trong những trường hợp có dấu hiệu của hành vi vi phạm quy định về PCTN của công ty đại chúng thì cũng thiếu thiết chế xác minh, từ đó các chủ thể xử phạt VPHC rất khó để thực hiện nguyên tắc: “Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh VPHC” .
Những vấn đề pháp lý đặt ra không chỉ nằm ở việc “có phạt hay không”, mà nằm ở việc xác định đúng hành vi vi phạm, đúng chủ thể chịu trách nhiệm, đúng thẩm quyền xử phạt, đúng chế tài và đúng ranh giới giữa xử phạt hành chính với xử lý hình sự.
Đối tượng bị xử phạt phải là cả công ty đại chúng và cá nhân có chức vụ, quyền hạn trong công ty đại chúng. Có thể phân chia cụ thể như sau:
Công ty đại chúng bị xử phạt VPHC trong trường hợp:
(i) Không xây dựng quy chế PCTN nội bộ gồm các nội dung chính như: Những nội dung mà công ty cần công khai, minh bạch thông tin về tổ chức, hoạt động; công tác tổ chức nhân sự; nguyên tắc kiểm soát xung đột lợi ích; quy tắc ứng xử; nguyên tắc, trình tự xử lý tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng hoặc hành vi vi phạm pháp luật về PCTN…
(ii) Có quy chế PCTN nội bộ nhưng công khai chậm, công khai không chính xác, không công khai, minh bạch nội dung quy chế, không tập huấn nhân sự, không có cơ chế kiểm tra, giám sát, không báo cáo Hội đồng quản trị và Đại hội đồng cổ đông công ty;
(iii) Không công khai, minh bạch các thông tin về tổ chức và hoạt động của công ty;
(iv) Có công khai nhưng không đúng hình thức luật định;
(v) Ngầm “cho phép” hoặc không xử lý cá nhân thực hiện hành vi hối lộ với cơ quan Nhà nước hoặc đối tác để giải quyết công việc của công ty đại chúng khi cá nhân đó hợp pháp hoá chi phi hối lộ thành chi phí tư vấn, hoa hồng, tiếp khách;
Cá nhân trong công ty đại chúng bị xử phạt VPHC trong trường hợp: (a) Không báo cáo khi có xung đột lợi ích xảy ra đối với bản thân mình hoặc cá nhân khác; (b) không làm tròn trách nhiệm của người đứng đầu công ty đại chúng; không xử lý người có hành vi vi phạm theo quy chế PCTN; (c) bao che cho hành vi tham nhũng, hành vi vi phạm pháp luật PCTN của cá nhân khác; (d) sa thải, kỷ luật, trù dập người tố cáo, báo cáo hành vi tham nhũng; (đ) không phối hợp tích cực với cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền trong việc cung cấp thông tin, hồ sơ, tài liệu liên quan đến xác minh hành vi tham nhũng, hành vi vi phạm pháp luật về PCTN.
Cần lưu ý, trong chế định về PCTN - một chế định đặt nặng yếu tố liêm chính, trách nhiệm cá nhân cần được đặt nặng hơn trách nhiệm tập thể. Xét cho cùng, nếu xử phạt pháp nhân công ty đại chúng thì thiệt hại của công ty càng lớn hơn sau khi đã thiệt hại từ hành vi vi phạm của các cá nhân. Do đó, việc xử phạt hành vi vi phạm pháp luật về PCTN cần được quy định rõ cho các hành vi của cá nhân để nâng cao trách nhiệm và hạn chế thêm những gánh nặng cho pháp nhân.
Chế tài xử phạt chính là một trong những khía cạnh quan trọng để tạo tính hiệu quả trong xử phạt VPHC. Nếu chế tài xử phạt quá nhẹ, sẽ không tạo được tính răn đe, nếu chế tài quá nặng, đối tượng bị xử phạt sẽ bị thiệt hại nặng nề, cảm thấy bất mãn.
Trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới, các cơ quan Nhà nước hướng tới kiến tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển, đồng thời không tạo thêm những áp lực không cần thiết đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, như một “phương thuốc đắng dã tật”, nếu không có những chế tài phù hợp để xử phạt hành vi vi phạm pháp luật về PCTN thì không thể có nền tảng quản trị nội bộ doanh nghiệp vững vàng, không có môi trường kinh doanh lành mạnh, càng không thể có một xã hội minh bạch, liêm chính.
Theo đó, chế tài xử phạt hành chính hành chính không chỉ là phạt tiền mà phải kết hợp giữa nhiều hình thức xử phạt khác như: (i) Hình thức xử phạt chính: phạt tiền; (ii) hình thức xử phạt bổ sung: đình chỉ/tạm đình giao dịch hoặc niêm yết; cấm tham gia đấu thầu; tịch thu tang vật, lợi ích bất chính; tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề…
Bên cạnh đó, cần phải buộc khắc phục hậu quả; đồng thời công khai quyết định xử phạt VPHC và chịu sự giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong một khoảng thời gian nhất định.
Thẩm quyền xử phạt VPHC đối với hành vi vi phạm pháp luật về PCTN cần được giao cho 2 nhóm các cơ quan gắn với 2 hình thức phát hiện VPHC: thanh tra và kiểm tra chuyên ngành.
(i) Đối với cơ quan thanh tra: Luật PCTN cho phép các cơ quan thanh tra tiến hành thanh tra việc thực hiện pháp luật PCTN đối với công ty đại chúng khi có dấu hiệu rõ ràng về vi phạm Điều 80 Luật này.
Từ ngày 1/7/2026, Nghị định 184/2026/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 59/2019/NĐ-CP đã làm rõ hơn thẩm quyền thanh tra tại Điều 59. Theo đó, Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ Quốc phòng, Thanh tra Bộ Công an, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước và Thanh tra tỉnh có các phạm vi thanh tra khác nhau đối với công ty đại chúng, tổ chức tín dụng và các tổ chức liên quan.
(ii) Đối với cơ quan Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra chuyên ngành: các cơ quan này có chức năng quản lý Nhà nước theo ngành, lĩnh vực nên sẽ là các cơ quan nắm bắt được thông tin kịp thời, đồng thời cũng thời xuyên tiến hành hoạt động kiểm tra chuyên ngành theo quy định tại Nghị định 216/2025/NĐ-CP nên sẽ là chủ thể dễ phát hiện các hành vi vi phạm.
PCTN giúp công ty đại chúng phát triển bền vững, tạo được niềm tin của nhà đầu tư, tạo được sự an toàn, ổn định của thị trường vốn. Việc quy định về xử phạt VPHC đối với hành vi vi phạm quy định về PCTN của công ty đại chúng đặt ra nhiều vấn đề pháp lý phức tạp. Trước hết, cần phân biệt rõ hành vi vi phạm quy định về PCTN với hành vi tham nhũng theo nghĩa hẹp, bởi đối tượng xử phạt chủ yếu là các vi phạm về cơ chế phòng ngừa như công khai, minh bạch, kiểm soát xung đột lợi ích và trách nhiệm của người quản lý.
Bên cạnh đó, pháp luật cần cụ thể hóa đầy đủ các yếu tố cấu thành vi phạm, hình thức xử phạt, mức phạt, biện pháp khắc phục hậu quả và thẩm quyền xử phạt để bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong xử phạt VPHC.
Đặc biệt, do công ty đại chúng đồng thời chịu sự điều chỉnh của pháp luật chứng khoán và pháp luật doanh nghiệp, việc xử phạt phải tránh tình trạng chồng chéo, xử phạt hai lần đối với cùng một hành vi hoặc bỏ lọt trách nhiệm cá nhân của người quản lý có lỗi. Ngoài ra, cơ chế công bố công khai vi phạm cần được thiết kế thận trọng nhằm bảo vệ quyền được thông tin của nhà đầu tư nhưng không gây tổn hại bất hợp lý đến thị trường chứng khoán và cổ đông nhỏ lẻ.
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định chính thức, cụ thể về việc xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) đối với hành vi vi phạm quy định về PCTN của công ty đại chúng.
Ths Nguyễn Mai Anh, Trường Cán bộ Thanh tra – Thanh tra Chính phủ
(Thanh tra) - Trong bối cảnh hiện nay, cần có những chế tài hành chính được áp dụng ngay từ khi các cá nhân trong công ty đại chúng có dấu hiệu vi phạm pháp luật về phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng để ngăn chặn sớm những hậu quả lớn xảy ra cho công ty.
Ths. Nguyễn Mai Anh, Trường Cán bộ Thanh tra – Thanh tra Chính phủ
Thái Hải
Bảo Anh
Bảo Anh
Thượng tá Phạm Mạnh Hùng, Phòng 3, Thanh tra Bộ Công an
Cảnh Nhật
Ths Nguyễn Mai Anh, Trường Cán bộ Thanh tra – Thanh tra Chính phủ
Thu Huyền
Trung Hà
Thái Hải
Thanh Lương
Thanh Lương
Thanh Lương
Thanh Lương
Hải Hà
Thanh Lương