Đồ họa: Dương Anh

Phóng viên Báo Thanh tra đã có cuộc trao đổi với TS. Trần Đăng Vinh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ xung quanh những nội dung này.

+ PV: Thưa ông, qua quá trình rà soát thực tiễn, tổ soạn thảo nhận diện đâu là những “điểm nghẽn” lớn nhất của hệ thống hiện hành mà dự thảo Nghị định lần này cần tháo gỡ?

- TS. Trần Đăng Vinh: Qua rà soát thực tiễn, chúng tôi nhận thấy có 5 “điểm nghẽn” lớn nhất của hệ thống hiện hành mà dự thảo Nghị định lần này cần tập trung tháo gỡ.

Trước hết, Nghị định 55/2022/NĐ-CP chủ yếu phục vụ tác nghiệp hành chính, tập trung vào việc theo dõi từng vụ việc cụ thể mà chưa tiếp cận theo mô hình nền tảng số quốc gia để phục vụ đa mục tiêu như chỉ đạo, điều hành và hoạch định chính sách về chuyển đổi số của Chính phủ.

“Điểm nghẽn” thứ hai là tình trạng phân tán và thiếu kết nối dữ liệu. Theo đó, dữ liệu vẫn cập nhật theo ngành và cấp hành chính, thiếu sự liên thông với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác, dẫn đến tình trạng không phát huy hết các nguồn lực.

Bên cạnh đó, dữ liệu trong hệ thống chưa đảm bảo tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống”. Các chức năng chủ yếu vẫn là thống kê đơn thuần, chưa hỗ trợ hiệu quả cho việc phân tích xu hướng hay cảnh báo rủi ro.

Thêm nữa là, hệ thống hiện hành chưa có hành lang pháp lý và kỹ thuật để tích hợp các công nghệ mới như dữ liệu lớn (Big Data) hay trí tuệ nhân tạo (AI) vào công tác tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo hay trả lời kiến nghị, phản ánh.

Đáng chú ý, qua rà soát, nghiên cứu cho thấy có tới hơn một nửa số điều của Nghị định 55/2022/ND-CP cần phải sửa đổi để bảo đảm thống nhất với các luật mới ban hành, nhất là Luật Dữ liệu, Luật Chuyển đổi số và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo.

Có thể nói việc xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định mới thay thế Nghị định 55/2022/ND-CP là yêu cầu cấp thiết để chuyển đổi từ “quản lý thông tin” sang “quản trị dữ liệu”, tạo nền tảng số thống nhất cho toàn ngành, góp phần nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo, cũng như trả lời kiến nghị, phản ánh.

Đồ họa: Dương Anh

+PV: Dự thảo Nghị định thiết kế những cơ chế nào để bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quá trình tiếp nhận, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo, trả lời kiến nghị, phản ánh, thưa ông?

- TS. Trần Đăng Vinh: Để bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quá trình tiếp nhận, xử lý đơn hay giải quyết khiếu nại, tố cáo, trả lời kiến nghị, phản ánh, dự thảo Nghị định tập trung điều chỉnh 4 nhóm cơ chế cốt lõi.

Theo đó, thông qua những quy định cụ thể “lấy người dân làm trung tâm”, dự thảo Nghị định đã xây dựng cơ sở pháp lý để người dân có thể theo dõi, giám sát quá trình giải quyết vụ việc của mình trên môi trường điện tử.

Việc quy định người dân có quyền truy cập thông tin cá nhân liên quan trong Cơ sở dữ liệu và yêu cầu cập nhật, sửa đổi khi phát hiện thông tin không chính xác là một điểm đột phá trong dự thảo Nghị định này.

Cùng với đó, thông qua việc quy định dữ liệu trong hệ thống được cập nhật, quản lý theo thời gian thực hoặc gần thời gian thực hay việc số hóa và quản lý tập trung để ngăn chặn những hành vi thiếu chuẩn mực trong quá trình thực hiện, như sửa chữa hồ sơ hoặc trì hoãn, chậm trễ việc thụ lý, giải quyết vụ việc, bảo đảm dữ liệu luôn "đúng, đủ, sạch, sống" và thống nhất trên toàn quốc.

Dự thảo cũng đặt ra cơ chế định danh, gắn trách nhiệm cá nhân, mọi thao tác trên hệ thống cơ sở dữ liệu đều được lưu vết và gắn với trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân cụ thể. Điều này cũng tạo cơ sở để phát hiện, xử lý kịp thời các cơ quan, tổ chức, đợn vị, cá nhân không cập nhật hoặc cập nhật không đầy đủ, thiếu chính xác hoặc làm sai lệch dữ liệu, nhất là các trường hợp lợi dụng trục lợi.

Đồ họa: Dương Anh

Ngoài ra, hệ thống cơ sở dữ liệu sẽ đảm nhận trách nhiệm tích hợp các chức năng thống kê, tổng hợp, phân tích thực trạng của công tác tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Các cảnh báo khi có sự chậm trễ hoặc các dấu hiệu bất thường trong quá trình giải quyết đều có thể phát hiện, chấn chỉnh xử lý ngay. Cơ chế này giúp các cơ quan quản lý cấp trên giám sát trực tiếp và hiệu quả hoạt động của cấp dưới mà không cần qua các báo cáo trung gian.

Sự kết hợp giữa 4 cơ chế nói trên giúp chuyển đổi từ quản lý hành chính đơn thuần sang quản trị số, tạo hành lang pháp lý để minh bạch hóa toàn bộ quá trình thực thi công vụ. Đối với những vụ việc có tính chất phức tạp, nhạy cảm thì các cơ quan cần trung nghiên cứu và có giải pháp phù hợp.

+ PV: Thưa ông, từ thực tiễn triển khai tại Hà Nội, đâu là bài học lớn nhất để hoàn thiện dự thảo trước khi áp dụng trên toàn quốc?

- TS. Trần Đăng Vinh: Từ thực tiễn triển khai tại các địa phương, đặc biệt là trên địa bàn trọng điểm như Hà Nội, chúng tôi rút ra những bài học quan trọng để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Nghị định. Có thể khái quát thành ba nội dung cốt lõi, được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn và đã được nghiên cứu, thể chế hóa trong dự thảo lần này.

Thứ nhất, thực tiễn cho thấy nếu dữ liệu chỉ nằm ở từng cơ quan, từng cấp hành chính thì không thể có cái nhìn tổng thể để dự báo tình hình. Bài học từ Hà Nội cho thấy nhu cầu kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia (như dân cư, đất đai) là sống còn để xác thực thông tin và tránh trùng lặp. Do đó, dự thảo quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia là nền tảng số dùng chung, bảo đảm dữ liệu phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí trong đó, phải “đúng, đủ, sạch, sống”.

Đồ họa: Dương Anh

Thứ hai, nếu không có chế tài đủ mạnh, việc cập nhật dữ liệu thường bị chậm trễ hoặc thiếu chính xác. Vì vậy, dự thảo lần này quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu và gắn việc lưu vết (log) mọi thao tác trên hệ thống để bảo đảm tính minh bạch, nghiêm cấm các hành vi cố ý không cập nhật hoặc làm sai lệch dữ liệu.

Thứ ba, trong thời gian tới, người dân có nhu cầu cao trong việc theo dõi tiến độ xử lý đơn thư của mình trên môi trường số, điều này cho thấy, chúng ta cần phải tạo ra "cửa sổ" để người dân biết được những việc mà mình quan tâm, hoặc có thể tham gia giám sát, từ đó, các cơ quan quan Nhà nước sẽ quan tâm giải quyết theo hướng bảo đảm tiến độ và đúng pháp luật.

Ba bài học nêu trên không chỉ giúp hoàn thiện quy định về mặt kỹ thuật mà còn tạo ra một cơ chế vận hành thực chất, bảo đảm Nghị định khi ban hành sẽ tháo gỡ được những "điểm nghẽn" thực tế hiện nay.

+ PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Xuất bản 02/05/2026 - 07:04 Tác giả: Dương Anh

Tin cùng chuyên mục

Kiến tạo nền tảng số minh bạch trong tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

Kiến tạo nền tảng số minh bạch trong tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

(Thanh tra) - Trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, yêu cầu đặt ra đối với công tác tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo là phải tiến tới quản trị dữ liệu một cách đồng bộ, minh bạch và có khả năng phân tích, dự báo. Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 55/2022/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ tháo gỡ những “điểm nghẽn” tồn tại lâu nay của hệ thống, đồng thời thiết lập nền tảng số thống nhất cho toàn ngành.

Dương Anh

07:04 02/05/2026

Tin mới nhất

Xem thêm