Theo dõi Báo Thanh tra trên
Trang Nguyệt
Thứ hai, 21/09/2026 - 20:22
(Thanh tra) - Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Dự trữ quốc gia về quản lý, sử dụng hàng dự trữ chiến lược, đã phân công cụ thể thẩm quyền quản lý danh mục hàng dự trữ chiến lược, đồng thời tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong việc quản lý, sử dụng hàng dự trữ chiến lược.
Dự thảo Nghị định quy định chi tiết Luật Dự trữ quốc gia về quản lý, sử dụng hàng dự trữ chiến lược do Bộ Tài chính chủ trì xây dựng. Đồ họa: Trang Nguyệt
Dự trữ chiến lược là chế định mới, lần đầu được luật hóa trong Luật Dự trữ quốc gia, chưa có quy định của pháp luật để tổ chức thực hiện tại Việt Nam. Dự thảo Nghị định được xây dựng nhằm cụ thể hóa các quy định của luật về hình thành, quản lý, mua, bán và bảo quản hàng dự trữ chiến lược, đồng thời quy định các biện pháp tổ chức thi hành để bảo đảm việc quản lý được thực hiện thống nhất.
Để bảo đảm tính tuân thủ pháp luật và phòng ngừa nguy cơ thất thoát, lãng phí nguồn lực Nhà nước, cơ chế thanh tra, kiểm tra đối với các hoạt động dự trữ chiến lược được thiết lập gắn liền với hệ thống pháp luật hiện hành. Theo đó, Nghị định số 345/2026/NĐ-CP đã quy định bộ, cơ quan ngang bộ và UBND cấp tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về dự trữ quốc gia theo quy định của pháp luật. Nội dung này được hồ sơ dự thảo dẫn chiếu khi phân định phạm vi điều chỉnh giữa hàng dự trữ quốc gia và hàng dự trữ chiến lược.
Cách tiếp cận này cũng được thể hiện trong quan điểm xây dựng dự thảo khi yêu cầu phân định rõ trách nhiệm giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh và các tổ chức, cá nhân có liên quan; đồng thời tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong quản lý, sử dụng hàng dự trữ chiến lược.
Điều 11 dự thảo Nghị định quy định các bộ, cơ quan ngang bộ và UBND cấp tỉnh được phân công quản lý hàng dự trữ chiến lược có trách nhiệm quyết định lựa chọn đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp tham gia dự trữ trên nguyên tắc công khai, minh bạch, cạnh tranh và bình đẳng.
Đối với các trường hợp thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về đấu thầu, việc lựa chọn phải tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định của Luật Đấu thầu. Việc lựa chọn trực tiếp thông qua thỏa thuận hợp đồng chỉ được áp dụng hạn chế trong các trường hợp đặc thù phục vụ quốc phòng, an ninh, sở hữu công nghệ độc quyền, thuộc danh mục bí mật Nhà nước hoặc trong các tình huống đột xuất, cấp bách, đồng thời thủ trưởng cơ quan quyết định phải chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về quyết định của mình.
Hợp đồng thực hiện dự trữ chiến lược được xác định là công cụ pháp lý trung tâm để quản lý, giám sát và ràng buộc trách nhiệm của các bên tham gia. Điều 12 dự thảo Nghị định quy định các nội dung bắt buộc phải có trong hợp đồng, bao gồm tên mặt hàng, số lượng, chất lượng, tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật, phương thức bảo quản, luân phiên đổi hàng, quyền kiểm tra đối chiếu dữ liệu, cũng như trách nhiệm hoàn trả kinh phí, phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.
Đặc biệt, nhằm phòng, chống các hành vi gian lận tài chính và gian lận thương mại, khoản 3, Điều 12 dự thảo Nghị định quy định hợp đồng phải ghi nhận cụ thể cơ chế thu hồi khoản hỗ trợ và xử lý biện pháp bảo đảm khi có vi phạm. Đồng thời, khẳng định nguyên tắc nghiêm cấm việc thỏa thuận miễn trách nhiệm đối với các hành vi gian lận, sử dụng hàng dự trữ sai mục đích hoặc hành vi không chấp hành quyết định huy động của cấp có thẩm quyền.
Bên cạnh đó, để ngăn chặn nguy cơ tẩu tán hoặc biến hàng dự trữ thành tài sản bảo đảm cho các nghĩa vụ tài chính riêng của doanh nghiệp, khoản 3, Điều 4 dự thảo Nghị định quy định rõ ranh giới pháp lý tài sản. Theo đó, hàng dự trữ chiến lược thuộc các nguồn hình thành không được cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng hoặc dùng để bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ khác ngoài quy định trong hợp đồng hoặc thỏa thuận.
Nhằm giải tỏa tâm lý e ngại cho cán bộ và doanh nghiệp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng vẫn duy trì kỷ cương pháp luật, dự thảo Nghị định đã thiết lập cơ chế miễn trừ trách nhiệm có điều kiện tại khoản 5, Điều 13.
Quy định này cho phép miễn trừ trách nhiệm đối với rủi ro mang tính khách quan khi thực hiện điều tiết thị trường theo quyết định của cấp có thấm quyền. Đồng thời, thực hiện dự trữ chiến lược các mặt hàng công nghệ cao, đặc thù mà sau thời gian dự trữ không đáp ứng yêu cầu về dự trữ chiến lược cần thực hiện xuất bán, xuất cấp, xuất có hoàn trả khi đã thực hiện đầy đủ quy trình ra quyết định, quản trị rủi ro, công khai, minh bạch và không có hành vi vi phạm pháp luật.

Đồ họa: Trang Nguyệt
Trong quá trình tổng hợp ý kiến tham gia đối với hồ sơ dự thảo Nghị định, Thanh tra Chính phủ đã có ý kiến góp ý cụ thể. Theo đó, đánh giá nội dung tại khoản 4, Điều 12 quy định hợp đồng thực hiện dự trữ chiến lược được dùng để bảo lãnh các khoản vay của các tổ chức tín dụng, Thanh tra Chính phủ đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo cần rà soát kỹ về cơ sở pháp lý và tính thống nhất với pháp luật về tín dụng, ngân hàng và giao dịch bảo đảm.
Thanh tra Chính phủ chỉ ra rằng, về bản chất pháp lý, hợp đồng thực hiện dự trữ chiến lược là văn bản xác lập quyền và nghĩa vụ giữa Nhà nước với tổ chức, doanh nghiệp tham gia dự trữ, không đương nhiên là tài sản bảo đảm hoặc đối tượng có thể sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ vay vốn.
Thanh tra Chính phủ nhấn mạnh việc quy định trực tiếp trong Nghị định về dự trữ chiến lược việc dùng hợp đồng để bảo lãnh khoản vay có thể dẫn đến cách hiểu rằng Nghị định này tạo ra một cơ chế bảo đảm tín dụng mới. Đồng thời, Thanh tra Chính phủ phân tích quy định nêu trên chưa thống nhất với quy định tại khoản 2, Điều 4 của dự thảo, theo đó, hàng dự trữ chiến lược không được cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng hoặc dùng để bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ khác ngoài quy định trong hợp đồng, thỏa thuận.
Do đó, Thanh tra Chính phủ đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát, nghiên cứu thống nhất, làm rõ sự khác nhau giữa việc sử dụng “hợp đồng thực hiện dự trữ chiến lược” để làm cở sở xem xét tín dụng với việc sử dụng hàng dự trữ chiến lược hoặc quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng làm tài sản bảo đảm.
Tiếp thu ý kiến góp ý của Thanh tra Chính phủ cùng ý kiến của các cơ quan liên quan, Bộ Tài chính đã rà soát và hoàn thiện dự thảo Nghị định. Việc tiếp thu này bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tránh sự chồng chéo giữa pháp luật dự trữ quốc gia với pháp luật về giao dịch bảo đảm và tín dụng, đồng thời ngăn chặn các rủi ro pháp lý và tài chính phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành.
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Dự trữ quốc gia về quản lý, sử dụng hàng dự trữ chiến lược, đã phân công cụ thể thẩm quyền quản lý danh mục hàng dự trữ chiến lược, đồng thời tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong việc quản lý, sử dụng hàng dự trữ chiến lược.
Trang Nguyệt
(Thanh tra) - Đối tượng được đề xuất gồm người cao tuổi, người khuyết tật, người thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người có công, người mắc bệnh mạn tính, người sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, xã đảo, đặc khu.
Thanh Lương
Trọng Tài
Trung Hà
Nguyễn Thanh
Minh Nghĩa
Trần Quý
Thanh Hoa
Trọng Tài
Minh Tân
Thu Huyền
Trang Nguyệt
Thành Công
Lê Hữu Chính
Thu Huyền
Chu Tuấn
Thư Ký