Theo dõi Báo Thanh tra trên
Thứ hai, 29/11/2021 - 16:57
(Thanh tra) - Quan điểm của UBND TP Hà Nội khi thực hiện chuyển đổi vị trí công tác nhằm chống biểu hiện bè phái, chủ nghĩa cá nhân, gây mất đoàn kết, làm xáo trộn sự ổn định trong cơ quan, đơn vị và không được lợi dụng việc định kỳ chuyển đổi vị trí công tác vì vụ lợi hoặc để trù dập cán bộ, công chức, viên chức…
Ảnh minh họa: Internet
II. TỒN TẠI, HẠN CHẾ
1. Một số cơ quan, đơn vị vẫn còn có hiện tượng triển khai mang tính đối phó, chưa có kế hoạch thực hiện định kỳ hoặc kế hoạch được xây dựng nhưng chưa đáp ứng yêu cầu (chưa nêu được trường hợp cụ thể phải chuyển đổi vị trí công tác, thời gian thực hiện chuyển đổi, quyền, nghĩa vụ của người phải chuyển đổi vị trí công tác và biện pháp tổ chức thực hiện), kế hoạch không mang tính khả thi hoặc dựa trên những nhu cầu thực tế, không đúng với quy định pháp luật, nhận thức về ý nghĩa cũng như phương pháp, cách làm còn thiếu nhất quán; cá biệt có cơ quan, đơn vị thực hiện lẫn lộn giữa chuyển đổi vị trí công tác với điều động, luân chuyển cán bộ gây xáo trộn tổ chức hoặc lợi dụng chủ trương chuyển đổi vị trí công tác để điều chuyển cán bộ đang làm tốt ở nơi này sang nơi khác chưa phù hợp với năng lực, sở trường, chuyên môn nghiệp vụ.
2. Số lượng cán bộ, công chức, viên chức được chuyển đổi vị trí công tác trên thực tế thường không đạt được so với kế hoạch đề ra hàng năm.
3. Việc thực hiện nguyên tắc hoán vị trong chuyển đổi vị trí công tác còn gặp nhiều hạn chế do chưa hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm.
4. Thực tế đang tồn tại những trường hợp khó có thể chuyển đổi vị trí công tác, do chồng chéo giữa quy định pháp luật về chuyển đổi vị trí công tác với quy định pháp luật khác.
5. Do chưa có chính sách được ban hành cùng với việc thực hiện chuyển đổi vị trí công tác một cách cụ thể, rõ ràng nên việc thực chuyển đổi vị trí công tác đã khiến không ít người lao động gặp khó khăn (nhóm đối tượng công tác tại vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn...)
III. NGUYÊN NHÂN TỒN TẠI, HẠN CHẾ
1. Nguyên nhân khách quan
a) Các vị trí việc làm phải định kỳ chuyển đổi chưa đến thời hạn định kỳ phải chuyển đổi; một số sở, cơ quan ngang sở vừa hoàn thành công tác rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ...
b) Việc tuyển dụng công chức, viên chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chi tiêu biên chế của cơ quan sử dụng; mỗi chức danh chỉ có một người đảm nhiệm, ngoài nhiệm vụ chính còn phải kiêm nhiệm thêm nhiều công việc khác, nên khó chuyển đổi vị trí khác và cũng không có cán bộ có chuyên môn tương ứng để chuyển đổi vị trí. Một số công việc cần chuyên môn sâu và kinh nghiệm thực tế tại đơn vị nhưng cơ cấu chỉ có 01 người đảm nhận thì khó tham mưu thực hiện định kỳ luân chuyển (như vị trí kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Thành phố hoặc tại một số sở, cơ quan tương đương sở).
c) Việc thực hiện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác gây khó khăn cho người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong bố trí, sắp xếp cán bộ, công chức, viên chức do thiếu nguồn thay thế. Cán bộ, công chức, viên chức đã quen việc với công tác chuyên môn ở lĩnh vực cần được chuyên sâu song đến thời hạn lại phải chuyển đổi, cán bộ công chức, viên chức khác đảm nhiệm ít có kinh nghiệm chuyên môn sâu và sẽ gặp khó khăn trong công tác, tiến độ giải quyết công việc chậm. Một số vị trí công chức cấp xã như Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã), đang nắm bắt được địa bàn, do chuyển sang xã khác nên cần phải có thời gian nghiên cứu, tích lũy, nắm bắt địa bàn mới, nắm bắt hồ sơ địa chính..., việc xác nhận hoặc giải quyết tranh chấp đất đai ở địa bàn mới gặp khó khăn do không nắm được lịch sử, nguồn gốc của mảnh đất đó. Hơn nữa, nếu cán bộ, công chức xã là người địa phương sẽ dễ dàng hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ, nhất là các vùng có đông đồng bào dân tộc ít người, do am hiểu phong tục, tập quán, nói, hiểu được ngôn ngữ địa phương...
d) Một số phòng trực thuộc các sở, cơ quan ngang sở có số biên chế rất ít, không có đủ nguồn nhân lực để thực hiện việc định kỳ chuyển đổi.
đ) Khoản 1 Điều 36 Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2019 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng, quy định "Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ quy định cụ thể danh mục và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và thuộc phạm vi quản lý theo ngành, lĩnh vực tại chính quyền địa phương"; tuy nhiên, đến nay chưa có quy định cụ thể nên các cơ quan, đơn vị còn lúng túng trong triển khai thực hiện.
2. Nguyên nhân chủ quan
Một số cấp ủy, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa thực sự quan tâm trong việc rà soát, thống nhất xác định danh mục các vị trí công tác thuộc lĩnh vực, ngành nghề phải định kỳ chuyển đổi trong nội bộ cơ quan, đơn vị, địa phương trên cơ sở bảo đảm phù hợp theo quy định của pháp luật và tình hình thực tế.
Hoàng Yến (Còn nữa)
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 170/NQ-CP Phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 6 năm 2026.
Thư Ký
(Thanh tra) - Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống VBQPPL (Theo NQ 2903/NQ-UBTVQH15) vừa có công văn quán triệt việc triển khai nhiệm vụ tổng rà soát theo chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư. Theo đó, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương đề cao trách nhiệm người đứng đầu, bảo đảm tiến độ, chất lượng rà soát.
H.T
Thư Ký
Phương Hiếu
Hải Hà
Thư Ký
Nguyễn Thanh
Thanh Nhung
Trọng Tài
Đăng Tân
Thái Nam
Hải Hà
Thu Huyền
Nhật Huyền
Hương Giang
Chu Tuấn
PV
Hương Giang