Theo dõi Báo Thanh tra trên
Thứ sáu, 10/05/2013 - 08:44
(Thanh tra) - Năm 1998, ông Lê Văn Hùng gửi đơn đến chính quyền xin lại đất nguy cơ bị chiếm dụng (sau khi đưa vào hợp tác xã đã giải thể), nhưng bất chấp tình trạng đất đang tranh chấp, từ năm 2000 đến 2001, UBND quận Gò Vấp đã cấp quyền sử dụng phần đất này cho hàng chục người khác. Hiện UBND quận Gò Vấp và cơ quan chức năng của TP. Hồ Chí Minh cho rằng, đơn khiếu nại của ông Hùng “có sau quyết định” cấp đất, còn việc “tố cáo chính quyền địa phương bán đất” đang tranh chấp là không đúng, nên “hướng dẫn” ông Hùng kiện ra Tòa...
Khu đất này tại phường 5 quận Gò Vấp vốn là của gia đình ông Hùng. Ảnh TL
Phần đất 5.480m2 tại phường 5, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh là của vợ chồng ông Lê Văn Sang - bà Trịnh Thị Đông tạo lập từ năm 1940 theo Bằng khoán số 1377 Hạnh Thông Xã. Khi mất sức lao động, vợ chồng ông Sang có giao cho ông Nguyễn Văn Long trông coi quản lý ruộng vườn. Đến năm 1978, ông Long đưa phần đất này vào Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp Quyết Tiến. Do vợ chồng ông Sang chỉ có người con gái duy nhất là bà Lê Thị Ánh sinh ra ông Lê Văn Hùng, nên sau khi ông bà cha mẹ và ông Long chết, ông Hùng là người thừa kế đất này.
Năm 1994, HTX giải thể, nhận thấy phần đất của gia đình có nguy cơ bị chiếm dụng, ngày 24/9/1998 ông Hùng có đơn gửi UBND phường 5 và UBND quận Gò Vấp xin lại, nhưng từ tháng 2/2000 đến tháng 8/2001, Chủ tịch UBND quận Gò Vấp Trần Kim Long đã “mạnh tay” cấp hàng chục Giấy chứng nhận QSD đất cho những người khác, sau đó những người này tiếp tục sang nhượng, xây cất nhà trái phép. Khi ông Hùng làm đơn khiếu nại, ngày 26/8/2004, Chủ tịch UBND quận Gò Vấp có Quyết định 29/QĐ bác đơn khiếu nại, với lý do “năm 2002 mới nhận được đơn khiếu nại của ông Hùng sau quyết định cấp đất, còn đơn xin lại đất trước đó của ông UBND quận không nhận được”.
Đối diện với việc tiếp tục khiếu nại của ông Hùng, ngày 20/10/2005, Phòng TN&MT quận Gò Vấp có văn bản gửi UBND quận báo cáo, năm 1978 phần đất của gia đình ông Hùng đưa vào làm ăn tập thể, năm 1983, HTX nông nghiệp Quyết Tiến đăng ký theo Chỉ thị 229/TTg của Phủ Thủ tướng (nay là Thủ tướng Chính phủ). Tuy nhiên, sau khi HTX “giao khoán” cho một số hộ xã viên và đến khi HTX Quyết Tiến giải thể, từ năm 2000 UBND quận đã cấp QSD phần đất này cho một số hộ dân. Cũng theo báo cáo, đến nay hầu hết các hộ này đã sang nhượng cho những người khác, hiện trạng trên phần đất nguồn gốc của gia đình ông Hùng, có 11 căn nhà “xây dựng không phép” và một phần đất trống 359m2 đã “lọt vào dự án hệ thống xử lý nước thải” lưu vực sông Tham Lương - Bến Cát do Sở NN&PTNT làm chủ đầu tư.
Trước đó, ngày 16/3/2005, Sở TN&MT TP. Hồ Chí Minh có Công văn 1626 đề nghị UBND quận Gò Vấp xác minh nguồn gốc phần đất, nếu đã cấp QSD đất cho người khác thì thu hồi lại quyết định giải quyết tranh chấp đất do Chủ tịch Trần Kim Long ký. Đồng thời, đề nghị UBND quận Gò Vấp “hướng dẫn” ông Hùng khởi kiện ra Tòa theo Khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 và Điểm 1 Phần 1 Thông tư liên tịch 01 ngày 3/1/2002 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục Địa chính. Từ những công văn và báo cáo vừa nêu, ngày 29/12/2005 UBND quận Gò Vấp ra Quyết định 1474/QĐ “thu hồi lại quyết định giải quyết tranh chấp đất đai” do Chủ tịch UBND quận ban hành. Từ đó đến nay, ông Hùng liên tục gửi đơn khiếu nại, tố cáo đến các cơ quan chức năng và UBND TP. Hồ Chí Minh (kể cả kiện ra tòa) để đòi lại phần đất, nhưng vẫn chưa được giải quyết.
Theo tài liệu thể hiện, sau khi gia đình ông Hùng đưa phần đất vào làm ăn tập thể, trở thành các thửa từ 270, 273 và một phần đường Tờ bản đồ số 01, phường 6, quận Gò Vấp, năm 1980 HTX nông nghiệp Quyết Tiến đăng ký sử dụng. Năm 1992, phần đất nêu trên thuộc một phần các thửa từ 147 đến 154, một phần đường tờ bản đồ số 01 phường 5 quận Gò Vấp, vẫn do HTX đăng ký sử dụng. Sau khi HTX giải thể năm 2002, phần đất này trở thành các thửa từ 13 đến 20, một phần các thửa từ 3 đến 21 và một phần đường tờ bản đồ số 10 phường 5 quận Gò Vấp, nhưng tên chủ sử dụng đất bỏ trống. Vậy nhưng, theo báo cáo của Phòng TN&MT quận Gò Vấp, từ ngày 2/2/2000 đến ngày 24/8/2001, trên phần đất nguồn gốc của gia đình ông Hùng, UBND quận Gò Vấp đã cấp hàng chục Giấy chứng nhận QSD đất cho các ông bà Nguyễn Thị Mai, Dương Văn Ruệ, Nguyễn Thị Ánh, Nguyễn Ngọc Thơ, Bùi Đăng Khoa, Đỗ Thị Hòa, Phạm Thị Thu Hiền, Nguyễn Hoàn Minh, Trần Nguyễn Hoàng, trong đó có người được cấp 2 Giấy chứng nhận.
Tiếp theo, ngày 15/3/2006, Phòng TN&MT quận báo cáo bổ sung, trên phần này tại đường Dương Quảng Hàm phường 5, quận Gò Vấp hiện có 11 căn nhà xây dựng trái phép. Trong đó, riêng căn nhà số 174/2/30 do ông Mai Xuân Hạnh tự xây dựng năm 2001, còn toàn bộ các căn nhà còn lại đều do các ông bà Trần Văn Chí, Nguyễn Hoàng Minh, Huỳnh Thị Kim Hoa, Nguyễn Thị Trâm Anh, Trần Thị Tuyết, Cao Đức Hòa, Huỳnh Văn Bé, Phạm Khuyến, Hoàng Hàm tự xây dựng năm 2002.
Trong vụ việc này, điểm cần làm rõ chính là quá trình sử dụng đất trước và sau khi HTX giải thể, vì theo trích lục địa chính thì tới năm 1999 phần đất trên vẫn đứng tên ông Lê Văn Sang, ông ngoại của ông Lê Văn Hùng. Chúng tôi sẽ tiếp tục phản ánh trong số báo tiếp theo.
Trúc Lâm
Kỳ II: Hướng dẫn ra tòa hay “né tránh” trách nhiệm?
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Tại 2 dự án giao thông kết nối TP Thanh Hóa (cũ) với Cảng hàng không Thọ Xuân, khi cơ chế dần được tháo gỡ, nguồn lực đang được tính toán lại, vấn đề cốt lõi không còn là “vì sao chậm”, mà là “ai chịu trách nhiệm và làm thế nào để chấm dứt lãng phí?”. Đây không chỉ là bài toán hạ tầng, mà còn là phép thử đối với hiệu lực quản lý và quyết tâm chống lãng phí trong đầu tư công.
Văn Thanh
(Thanh tra) - Sau gần 7 năm đình trệ, hai dự án đường nối thành phố Thanh Hóa (cũ) với Cảng hàng không Thọ Xuân vẫn chưa thể “thông mạch” không chỉ vì thiếu vốn, mà bởi những vướng mắc trong giải phóng mặt bằng và sự chồng chéo chính sách qua nhiều giai đoạn. Những thửa đất chưa thể thu hồi, những hồ sơ vượt hạn mức, cùng cách áp dụng pháp luật thiếu thống nhất… đang đẩy dự án nghìn tỷ vào vòng xoáy kéo dài, tiềm ẩn nguy cơ lãng phí lớn và đặt ra câu hỏi về trách nhiệm trong quản lý đầu tư công.
Văn Thanh
Văn Thanh
Thái Minh
Thuỳ Anh
Hương Trà
Văn Thanh
Văn Thanh
Trung Hà
Bảo Anh
Trí Vũ
Thu Huyền
Thanh Lương
Thanh Hoa
H.T
TK
PV