Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

Kỳ I: Không có cơ sở, cứ khiếu, cứ tố

Thứ năm, 08/08/2013 - 13:10

(Thanh tra)- Lãnh đạo ngại nghe dân, "quên" không tiếp dân theo qui định của luật; cứ cán bộ yếu về năng lực thì chuyển sang tiếp dân; nhiều phản ánh, khiếu nại (KN), tố cáo (TC) của nhân dân bị bỏ quên trong ngăn kéo... Đó là thực trạng được Chỉ thị 14 của Thủ tướng Chính phủ chấn chỉnh và yêu cầu khắc phục trước tình hình KN, TC có diễn biến phức tạp. Nhìn lại 1 năm thực hiện Chỉ thị này, cũng là 1 năm toàn ngành Thanh tra tích cực triển khai Kế hoạch 1130 về rà soát các vụ việc KN, TC phức tạp, kéo dài, bằng loạt bài "Nhận diện KN, TC", Báo Thanh tra mong muốn bạn đọc có một cái nhìn đầy đủ hơn về thực trạng KN, TC thời gian gần đây...

Một buổi tiếp dân đông người của Trụ sở tiếp dân của Trung ương và Nhà nước

Đã có ý kiến đề xuất thu phí để hạn chế hành vi KN, TC. Đề xuất này đã và đang  nhận được nhiều phân tích trái chiều. Tuy nhiên, đúng là trong thực tế, số vụ việc KN, TC không có cơ sở chiếm tỷ lệ không hề nhỏ!

Hồ sơ khiếu nại...

Bà Hà Thị Oanh, trú tại tổ 23, phường Tân Thịnh, TP Hoà Bình, KN Quyết định số 1304/QĐ-UBND ngày 13/6/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình. Qua kiểm tra cho thấy, thửa đất hộ bà Oanh đang sử dụng và đề nghị được bồi thường đã được đo đạc địa chính tháng 8/2002 (thửa số 137, tờ bản đồ số 07, phường Tân Thịnh, diện tích 55,8m2). Tháng 7/2007, Ban Quản lý Dự án các công trình giao thông thuộc Sở Giao thông Vận tải trích đo thu hồi đất tuyến đường Thịnh Lang, thửa đất số 137 có diện tích đất là 60,1m2. Gia đình bà Oanh không có một loại giấy tờ gì về quyền quản lý và sử dụng thửa đất trên. Mặt khác, thửa đất số 137 và thửa đất tại phường Tân Hòa có diện tích 352m2 do Nhà nước thu hồi năm 1992 để xây dựng Nhà máy Xi măng Sông Đà. UBND TP Hòa Bình đã giao đất cho hộ bà Oanh tại thửa đất số 234, tờ bản đồ số 07, phường Tân Thịnh, diện tích 71,1m2 đất (không thu tiền sử dụng đất) giải phóng mặt bằng (GPMB) và thu hồi 55,8m2 đất tại thửa đất số 137 để quy hoạch đường nội bộ trong khu dân cư. Nay bà Oanh đề nghị bồi thường thửa đất số 137 là không có căn cứ để xem xét.

Bà Trịnh Thị Kim Anh, trú tại TP Pleiku KN, đề nghị UBND tỉnh Gia Lai trả lại diện tích đất xưởng cưa Quang Minh tại phường Trà Bá, TP Pleiku. Ngày 29/7/2004, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai đã ban hành Quyết định số 992/QĐ-CT giải quyết KN của bà Trịnh Thị Kim Anh, với nội dung: Không công nhận nội dung KN của bà Trịnh Thị Kim Anh đòi trả lại diện tích đất xưởng cưa Quang Minh. Ngày 11/5/2006, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Văn bản số 1903/BTNMT-TTr trả lời KN của bà Kim Anh với nội dung: Qua xem xét, Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận thấy, việc đòi lại đất theo đơn của bà là không có cơ sở để xem xét giải quyết.

Bà Mai Thị Xê, huyện Đắk Pơ, tỉnh Gia Lai, KN đòi lại diện tích đất 1.586m2 mà sau ngày giải phóng năm 1975 đã đưa vào hợp tác xã. Tại Quyết định số 135 của UBND huyện Đắk Pơ và Quyết định số 759 của UBND tỉnh Gia Lai đều không công nhận việc đòi lại đất của bà Mai Thị Xê.

Bà Trần Thị Nghệ, trú tại TP Hồ Chí Minh, KN xin lại nhà đất số 65 đường Võ Tánh (nay là đường Hoàng Văn Thụ), phường Yên Đỗ, TP Pleiku, tỉnh Gia Lai. Ngày 12/10/2000, UBND TP Pleiku ban hành Công văn số 206/CV-UB trả lời đơn xin lại nhà của ông Trần Văn Rong (chồng bà Nghệ) khẳng định: Căn nhà số 65 đường Hoàng Văn Thụ, phường Yên Đỗ thuộc diện nhà vắng chủ, hiện nay Nhà nước đang quản lý. Căn cứ Quyết định số 297/CT ngày 02/10/1991 của Chủ tịch HĐBT (nay là  Thủ tướng Chính phủ), về việc giải quyết một số vấn đề nhà ở, UBND TP  Pleiku không xem xét giải quyết đơn xin lại nhà của bà. Ngày 12/8/2011, UBND tỉnh Gia Lai có Công văn số 2442 khẳng định: KN của bà Nghệ là không có cơ sở để xem xét và giải quyết.

Bà Lê Thị Phi Môn, trú tại số 18 Lô 1, xã Mỹ Yên, huyện Bến Lức, tỉnh Long An đến Thanh tra Chính phủ TC lãnh đạo Sở Xây dựng Long An bao che cho ông Nguyễn Tiến Dũng xây dựng nhà trái phép. TC này đã được UBND tỉnh Long An trả lời tại Văn bản số 359/UBND-NCTCP ngày 25/01/2013. Tuy nhiên, bà Môn cho rằng việc trả lời thiếu khách quan, có dấu hiệu bao che cho cấp dưới của ông Đỗ Hữu Lâm, Chủ tịch UBND tỉnh Long An. Vụ chức năng trình Tổng Thanh tra đề xuất lưu đơn vì công dân TC không có cơ sở.

60% KN về đất đai không có cơ sở

Những hồ sơ KN mà chúng tôi được tiếp cận nói trên chỉ là con số rất nhỏ trong nhiều trăm vụ việc KN đã và đang khiến các cơ quan chức năng từ Trung ương đến địa phương phải lao tâm khổ tứ. Điều đáng nói là, hồ sơ dạng này có thể bắt gặp ở bất kỳ một địa phương nào và khiến cán bộ được giao nhiệm vụ phải ngao ngán.

Tổng hợp của các địa phương khiến chúng ta không thể không giật mình. Thanh tra tỉnh Quảng Ninh cho biết: trong  6 tháng đầu năm, tổng số đơn thư KN, TC, kiến nghị, phản ánh đã tiếp nhận, xử lý là 1.435 đơn, với 1.432 vụ việc, giảm 3,8% so với cùng kỳ năm 2012. Qua phân loại có 80 vụ việc KN, 14 vụ việc TC; 1.338 đơn kiến nghị, phản ánh, đơn trùng lặp, đơn nặc danh, đơn không rõ nội dung và địa chỉ người KN, TC.

Tổng hợp từ UBND tỉnh An Giang 6 tháng đầu năm cũng cho thấy: Trong số 975 đơn tiếp nhận mới, có 514 đơn thuộc thẩm quyền. Phân tích 145 đơn đã giải quyết, có đến 60% là KN sai.

Tỷ lệ này ở TP Hồ Chí Minh còn cao hơn rất nhiều. Phân tích kết quả giải quyết đơn KN ở địa phương này cho thấy, chỉ có 10% KN đúng, 76% KN sai và 14% KN có đúng, có sai. Với đơn TC, TP Hồ Chí Minh phân tích kết quả giải quyết 76/89 đơn thì thấy, chỉ có 4% đơn TC đúng, 65% đơn TC sai và 32% đơn TC có đúng có sai.

Tại tỉnh Vĩnh Long, 6 tháng đầu năm, các cơ quan tiếp nhận 286 đơn KN, TC. Trong đó, KN, yêu cầu đúng là  16 đơn, chiếm  14,2%;  KN, yêu cầu có đúng, có sai chiếm 12,5%; KN, yêu cầu sai chiếm đến 73,2%.

Tương tự, 6 tháng đầu năm, các cấp, các ngành tỉnh Bình Định đã tiếp nhận, xử lý 1.974 vụ KN, TC, kiến nghị, phản ảnh. Kết quả giải quyết cho thấy có 13,1% số vụ KN đúng, 71% số vụ KN sai, 15,9% số vụ KN có đúng có sai. Kết quả giải quyết TC cho thấy có 8,8% số vụ TC đúng, 72,1% số vụ TC sai; 19,1% số vụ TC có đúng, có sai.

Ở Lào Cai, 6 tháng đầu năm các cấp các ngành đã giải quyết được 45/54 đơn thuộc thẩm quyền. Phân tích kết quả giải quyết 45 vụ việc, kết quả khiến nhiều người kinh ngạc: số KN đúng: không; KN sai chiếm  91%; KN có đúng, có sai chiếm 9%.

Thanh tra tỉnh Hải Dương cho biết, tỷ lệ các vụ KN đúng là 21%, KN có đúng có sai là 46% và KN sai là 33%. Còn ở Nghệ An, kết quả giải quyết KN cho thấy số vụ việc KN đúng chỉ chiếm 9%; Số vụ việc KN có đúng, có sai chiếm 24,5%;  Số vụ việc KN sai chiếm đến 66,6%. Kết quả giải quyết TC cũng cho thấy số vụ việc TC đúng chiếm tỷ lệ 9,1%; Số vụ việc TC có đúng, có sai chiếm tỷ lệ 38,5%; Số vụ việc TC sai chiếm  52,4%...

Không thể liệt kê hết thống kê của các địa phương về kết quả phân loại giải quyết KN, TC. Cũng như không thể kể hết, dù là đầu việc của các hồ sơ KN không có cơ sở, KN sai... Chỉ có một điều chắc chắn mà bất kỳ ai quan tâm đến công tác giải quyết KN, TC đều biết rõ: Đó là một câu hỏi lớn đối với người nắm giữ cương vị lãnh đạo điều hành công tác này. Và, dù không có cơ sở nhưng những hồ sơ này đã, đang và sẽ là một áp lực lớn đối với người làm công tác tiếp dân giải quyết KN, TC. 

Thúy Nhài - Phương Hiếu
Kỳ II: Nỗi lòng cán bộ tiếp dân

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Tin mới nhất

Xem thêm