Ca khúc: Tự hào người làm báo Thanh tra

Theo dõi Báo Thanh tra trên

4 căn cứ ra quyết định tạm đình chỉ công tác để xác minh hành vi tham nhũng

Thứ ba, 29/01/2013 - 09:20

(Thanh tra) - Theo Dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng và các Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng vừa được Thanh tra Chính phủ công bố lấy ý kiến góp ý của nhân dân, có 4 căn cứ để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác trong quá trình xác minh hành vi tham nhũng.

Thời hạn tạm đình chỉ công tác không quá 30 ngày

Để bảo đảm tính minh bạch, Dự thảo quy định 4 căn cứ để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác. Đó là, khi có  yêu cầu của cơ quan thanh tra, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan điều tra, viện kiểm sát; khi có tố cáo, phản ánh về tham nhũng mà tố cáo, phản ánh đó có nội dung rõ ràng, bằng chứng cụ thể, có căn cứ để tiến hành xác minh, làm rõ hành vi tham nhũng; qua công tác tự kiểm tra phát hiện cán bộ, công chức, viên chức có dấu hiệu tham nhũng; qua công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành phát hiện cán bộ, công chức, viên chức có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản Nhà nước hoặc thi hành công vụ.

Theo Thanh tra Chính phủ, việc ra quyết định tạm đình chỉ công tác hoặc quyết định tạm thời chuyển vị trí công tác khác rất quan trọng trong quá trình xác minh hành vi tham nhũng. Vì vậy, Dự thảo quy định trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến tham nhũng hoặc khi nhận được yêu cầu của cơ quan thanh tra, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan điều tra, viện kiểm sát thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị theo thẩm quyền hoặc đề nghị người có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ công tác hoặc tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác nếu xét thấy người đó tiếp tục làm việc có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý. Thời hạn tạm đình chỉ công tác, chuyển vị trí công tác khác không quá 15 ngày, trường hợp cần thiết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 30 ngày. 

Trong thời gian tạm đình chỉ công tác, cán bộ, công chức, viên chức được hưởng 50% của mức lương theo ngạch, bậc hiện hưởng, cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có). Trường hợp không có hành vi tham nhũng thì được truy lĩnh 50% còn lại. Nếu kết luận cán bộ, công chức, viên chức không có hành vi tham nhũng và người có thẩm quyền có hành vi vi phạm pháp luật trong việc tạm đình chỉ, tạm thời chuyển vị trí công tác khác thì được xin lỗi, cải chính công khai, được bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật (Khoản 3 Điều 23 Dự thảo).

Cũng theo Thanh tra Chính phủ, Dự thảo sẽ sửa đổi, bổ sung các quy định bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch trong việc ban hành danh mục bí mật Nhà nước của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; áp dụng hình thức công khai; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu cung cấp thông tin; thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin; xử lý hành vi vi phạm các quy định về yêu cầu cung cấp thông tin cho phù hợp với các quy định về công khai, minh bạch trong Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012...

Không thực hiện đúng nghĩa vụ cung cấp thông tin có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Dự thảo quy định, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu cung cấp thông tin, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được yêu cầu cung cấp thông tin phải thực hiện việc cung cấp thông tin khi nội dung thông tin được yêu cầu đáp ứng các điều kiện thuộc phạm vi công khai theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng thuộc phạm vi hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được yêu cầu; chưa được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, phát hành ấn phẩm hoặc niêm yết công khai. 

Nếu thông tin được yêu cầu đã được đưa trên các phương tiện thông tin đại chúng, phát hành ấn phẩm hoặc niêm yết công khai thì văn bản trả lời phải có hướng dẫn cách tiếp cận thông tin đó. 

Người được yêu cầu cung cấp thông tin mà không thực hiện đúng các nghĩa vụ về cung cấp thông tin theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012 và Nghị định này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. 

Người nào lợi dụng quyền yêu cầu cung cấp thông tin để gây rối hoặc sử dụng trái pháp luật thông tin được cung cấp gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. 

Dự thảo bỏ các quy định trước đây về hành vi bị nghiêm cấm và xử lý vi phạm; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người tố cáo hành vi tham nhũng... cho phù hợp với các quy định của pháp luật về tố cáo trong bảo vệ người tố cáo và khen thưởng người có thành tích trong tố cáo tham nhũng. Đồng thời, bổ sung quy định về bảo vệ người tố cáo; khen thưởng trong công tác phòng, chống tham nhũng trên cơ sở quy định tại Điều 53, Nghị định số 120/2006/NĐ-CP về quỹ khen thưởng về phòng, chống tham nhũng và dẫn chiếu đến các quy định của pháp luật về tố cáo.

Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng đã được Quốc hội khóa XIII, Kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 23/11/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/2/2013 với nhiều quy định đã được sửa đổi, bổ sung như: Hình thức và lĩnh vực thực hiện công khai, minh bạch; minh bạch tài sản, thu nhập; trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng; trách nhiệm giải trình, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng…

Qua rà soát và đánh giá sơ bộ cho thấy, Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng còn một số quy định chưa phù hợp với Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012 (về hình thức công khai; Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng); Luật Thanh tra năm 2010 (về phê duyệt kế hoạch thanh tra), Luật Khiếu nại năm 2011 và Luật Tố cáo năm 2011 (về trình tự khiếu nại; bảo vệ người tố cáo, khen thưởng người có thành tích trong tố cáo tham nhũng).

Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, dễ tra cứu, các quy định tại Nghị định số 120 sẽ được sửa đổi, bổ sung và được thể hiện tại Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng.

Dự thảo Nghị định gồm 9 chương và 66 điều, quy định chi tiết trình tự, thủ tục, thời hạn tạm đình chỉ, quyết định tạm thời chuyển vị trí công tác khác; chế độ của cán bộ, công chức, viên chức sau khi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kết luận người đó không có hành vi tham nhũng; các nội dung về công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; chế độ thông tin, báo cáo; chế độ kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng; tố cáo hành vi tham nhũng; xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn và một số quy định khác của Luật Phòng, chống tham nhũng.  

Hồng Hà

Ý kiến bình luận:

Ý kiến của bạn sẽ được xét duyệt khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu.

Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!

Tin cùng chuyên mục

Tin mới nhất

Xem thêm