Chánh Thanh tra TP Bùi Thị Hồng Vân cho biết: Quy chế Công khai kết luận thanh tra theo Quyết định số 106 có hiệu lực từ ngày 6/5/2024 thay thế Quyết định số 124/QĐ-TTTP ngày 6/8/2021, có 4 chương 11 điều được thể hiện rất cụ thể thẩm quyền nội dung phương thức công khai kết luận thanh tra phải được công khai nội dung kết luận thanh tra do thanh tra ban hành và các quy định khác của pháp luật, trừ những nội dung trong kết luận thanh tra có liên quan đến an ninh quốc gia, bí mật Nhà nước, bí mật ngân hàng, bí mật kinh doanh theo quy định pháp luật.

Quy chế Công khai kết luận thanh tra quy định về thẩm quyền, nội dung, phương thức, thủ tục công khai các kết luận thanh tra do cơ quan thanh tra ban hành.

Việc công khai kết luận thanh tra phải bảo đảm đúng thẩm quyền, nội dung, phương thức và thủ tục theo quy định tại quy chế này và các quy định pháp luật có liên quan. Các tài liệu liên quan đến việc công khai phải được lập thành hồ sơ công khai và lưu trong hồ sơ cuộc thanh tra.

Nội dung kết luận thanh tra phải được công khai toàn văn, trừ những nội dung trong kết luận thanh tra thuộc bí mật Nhà nước, bí mật ngân hàng, bí mật kinh doanh, hoặc bí mật khác theo quy định của pháp luật không được công khai.

Đối với nội dung thuộc bí mật Nhà nước, bí mật ngân hàng, bí mật kinh doanh, hoặc bí mật khác, gồm: Danh mục bí mật Nhà nước thuộc lĩnh vực thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định tại Quyết định số 774/2020/QĐ-TTg ngày 5/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định.

Danh mục bí mật Nhà nước đối với ngành, lĩnh vực chuyên ngành khác do người có thẩm quyền ban hành theo Điều 9 Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước số 29/2018/QH14 ngày 15/11/2018 quy định.

Các hình thức công khai được thực hiện theo quy định tại Điều 79 Luật Thanh tra năm 2022 và Điều 49 Nghị định số 43/2023/NĐ-CP ngày 30/6/2023 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thanh tra năm 2022, bao gồm: Hình thức bắt buộc đăng tải kết luận thanh tra trên cổng thông tin điện tử thành phần của Thanh tra, thời gian đăng tải ít nhất 15 ngày liên tục.

Thông báo trên ít nhất một phương tiện thông tin đại chúng (bao gồm báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử). Thời gian thông báo trên báo in, báo nói, báo hình ít nhất là 2 lần liên tục; việc thông báo trên báo điện tử phải thực hiện ít nhất 15 ngày liên tục.

Việc niêm yết kết luận thanh tra tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức là đối tượng thanh tra do đối tượng thanh tra thực hiện. Thời gian niêm yết ít nhất là 15 ngày liên tục.

Ngoài việc công khai kết luận thanh tra theo khoản 1, khoản 2 Điều này, tùy theo tính chất của từng cuộc thanh tra, việc công khai kết luận thanh tra được công khai tại cuộc họp báo do Chánh Thanh tra, Phó Chánh thanh tra hoặc người phát ngôn của thanh tra chủ trì theo Quy chế Phát ngôn và Cung cấp thông tin cho báo chí.

Trường hợp các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến cuộc thanh tra hoặc cơ quan báo chí yêu cầu cung cấp thông tin thì cán bộ trực tiếp dân của cơ quan thanh tra hướng dẫn liên hệ với người có thẩm quyền, người phát ngôn của cơ quan.

Sau khi ký ban hành kết luận thanh tra và văn bản hình thức công khai kết luận thanh tra, trưởng các phòng nghiệp vụ, đoàn thanh tra thực hiện việc công khai kết luận thanh tra: Đối với hình thức công khai trên cổng thông tin điện tử của thanh tra chậm nhất 5 ngày.

Đối với hình thức công khai theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Quy chế: Chậm nhất 10 ngày kể từ ngày ký ban hành kết luận thanh tra, trưởng các phòng nghiệp vụ, chánh văn phòng, trưởng đoàn thanh tra tiến hành công khai theo quy định.
Việc gửi thông tin công khai kết luận thanh tra cho các cơ quan báo chí do chánh văn phòng thanh tra, trưởng đoàn thanh tra, trưởng các phòng nghiệp vụ thực hiện theo chỉ đạo của chánh thanh tra.

Cách thức thực hiện công khai kết luận thanh tra việc công khai kết luận thanh tra phải được lập thành biên bản, theo quy định tại khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 6 Quy chế thì biên bản công khai được thực hiện khi kết thúc thời hạn công khai, kết thúc buổi công bố kết luận thanh tra, kết thúc thời hạn niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức là đối tượng thanh tra. Biên bản công khai có chữ ký xác nhận của trưởng đoàn thanh tra và đại diện lãnh đạo của cơ quan, tổ chức, đơn vị là đối tượng thanh tra.

Chánh văn phòng, trưởng các phòng nghiệp vụ có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra rà soát việc thực hiện công khai kết luận thanh tra. Đồng thời theo dõi, quản lý việc công khai kết luận thanh tra theo quy định.

Trên cơ sở kết luận thanh tra các đơn vị chủ động phối hợp với phòng nghiệp vụ có liên quan thuộc Ban Tuyên giáo Thành ủy, Văn phòng UBND, Sở Thông tin và Truyền thông trong việc đăng tải thông tin về nội dung kết luận thanh tra của Thanh tra TP trên các phương tiện thông tin đại chúng và chuẩn bị nội dung họp báo đột xuất, thường kỳ của UBND (khi có yêu cầu).

Nếu chánh văn phòng, trưởng phòng nghiệp vụ, trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra, cán bộ, công chức, thanh tra viên thuộc Thanh tra TP vi phạm các quy định tại quy chế này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc hình sự theo quy định của pháp luật.

Kim Thành