Theo dõi Báo Thanh tra trên
Thứ năm, 09/10/2014 - 06:55
(Thanh tra)- Đại diện Cục Kinh tế địa chất và Khoáng sản cho biết, cả nước hiện có 50 giấy phép khai thác đá hoa trắng, chủ yếu tập trung ở Nghệ An và Yên Bái, một số ít ở Bắc Kạn. Đến nay, đơn vị này nhận được 40 bản tự kê khai tiền cấp quyền khai thác mỏ. 10 doanh nghiệp (DN) còn lại không có bất cứ văn bản nào.
Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và môi trường Yên Bái Phạm Văn Đoàn. Ảnh: Đan Nguyên
Trong số 40 DN tự kê khai theo mẫu của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản, chỉ có 11 DN đã cung cấp đầy đủ các số liệu để tính tiền cấp quyền. 25 DN còn lại khẳng định còn thiếu cơ sở để tính tiền cấp quyền.
Cũng theo tổng hợp của đơn vị này, tính từ 1/1/2014, còn trên 97 triệu m3 đá trắng, 404 triệu tấn bột đá cần phải tính tiền cấp quyền. Thực hiện chỉ đạo về việc tháo gỡ một số vướng mắc trong lĩnh vực địa chính khoáng sản theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản đã có Văn bản số 1014 yêu cầu cơ quan chức năng tỉnh tạm thời chưa thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đối với trữ lượng đã khai thác từ ngày 1/7/2011 đến 31/12/2013. Số tiền tạm dừng tạm tính là trên 17 tỷ đồng. Từ 1/1/2014, số tiền cấp quyền khai thác đá trắng cần thu là trên 8.600 tỷ đồng, chia trung bình là 402 tỷ đồng/năm.
Cũng theo phép “tính thử” của Tổng cục Địa chính và Khoáng sản, danh sách nộp tiền cấp quyền khai thác đá trắng được tính khá “khủng”: Cty Cổ phần Tập đoàn Thái Dương phải nộp 484 tỷ đồng (trung bình 21 tỷ đồng/năm); Cty Thiết bị và Khoáng sản Yên Bái phải nộp 616 tỷ đồng (trung bình 26 tỷ đồng/năm); Cty Cổ phần Vinabico phải nộp 593 tỷ đồng (trung bình 25 tỷ đồng/năm)…
Ông Tống Minh Hiểu, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Cty Cổ phần An Lộc bức xúc: Tính toán để thu tiền cấp quyền nói trên là rất vô lý. Bởi lẽ, phép tính để thu tiền cấp quyền là tính trên trữ lượng trên giấy phép. So với trữ lượng khai thác thực tế, DN phải nộp tiền cho 20m3 mà chỉ khai thác được 1m3. Về đá bột, chúng tôi phải nộp tiền cấp quyền cho 10 tấn trong khi chỉ khai thác được 1 tấn. Nếu làm phép tạm tính thì cũng thấy, doanh thu trung bình của DN là 2 tỷ đồng/năm trong khi phải nộp tiền cấp quyền là 5 tỷ đồng/năm. Đây là con số vô lý không thể chấp nhận được.
Đá trắng
Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Yên Bái Phạm Văn Đoàn cho biết: Thực tế hiện nay, các DN khai thác mỏ đá trên địa bàn tỉnh đang thực sự gặp khó khăn. Có DN đã dừng khai thác vì hiệu quả đạt thấp và nhiều lý do khách quan. Nếu thực hiện theo phép tính này thì khả năng số DN khai thác mỏ trên địa bàn tỉnh có thể bám trụ được là rất ít. Tuy nhiên, đã là quy định thì phải thực hiện. Trong quá trình thực hiện thấy có bất cập, các doanh nghiệp có nhiều ý kiến gửi các cơ quan chức năng để được xem xét và tìm cách tháo gỡ.
Tính đến thời điểm hiện nay, mới có hơn 50/103 DN được cấp giấy phép khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh chốt được số tiền phải đóng.
Thứ nhất, trữ lượng, công suất ghi trên giấy phép khác xa trữ lượng và sản lượng thực tế. Hầu hết các mỏ đá hoa trắng trên địa bàn tỉnh Nghệ An được cấp từ năm 2006 - 2011, sau một thời gian khai thác thực tế tất cả các mỏ đều cho thấy trữ lượng, sản lượng thực tế thấp hơn hàng chục lần so với giấy phép.
Thứ hai, chỉ tiêu giá tính trùng và không hợp lý. DN chúng tôi hiểu bản chất thu tiền cấp quyền là thu trên giá trị tài nguyên, trong khi đó, chỉ tiêu giá đưa vào công thức tính tiền cấp quyền lại tính theo giá tính thuế tài nguyên, trong giá này ngoài giá trị tài nguyên còn hàng loạt chi phí như: Chi phí thăm dò cấp phép, xây dựng cơ bản mỏ phân bổ và chi phí khai thác (lương, nhiên liệu, vật tư, khấu hao máy móc thiết bị, các chi phí quản lý khác...). Các chi phí này là do DN bỏ ra, cao thấp phụ thuộc vào từng DN, từng vùng, từng thời điểm, nó không chỉ là giá của tài nguyên. Giá này biến động liên tục và theo luật thì khi thay đổi trên 20% thì UBND tỉnh sẽ quyết định lại, trên thực tế hầu như năm nào cũng điều chỉnh trong khi đó lại lấy giá này làm cơ sở tính tiền cấp quyền với mỗi khoảng thời gian 5 năm là bất hợp lý, đó là chưa kể đến các biến động xấu về thị trường và sự cạnh tranh của các quốc gia khác có tài nguyên đá trắng chất lượng cao, đáp ứng thị trường quốc tế.
Thứ ba, hệ số thu hồi khoáng sản liên quan đến phương pháp khai thác đối với phương pháp khai thác lộ thiên K1=0,9 là không thực tế, hầu hết các mỏ chúng tôi chỉ có thể đạt từ 0,6 - 0,8.
Thứ tư, việc nộp tiền cấp quyền từ thời điểm này trở về trước là ngoài khả năng của DN. Từ khi cấp phép đến thời điểm Nghị định 203/NĐ-CP ra đời tất cả các DN chúng tôi không đưa phí cấp quyền vào chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, giá bán hàng, quyết toán thuế với Nhà nước cũng trên cơ sở này và hàng năm đã quyết toán tài chính, quyết toán thuế nên không thể cân đối tài chính để nộp. Mặt khác, nộp theo trữ lượng ghi trên giấy phép thì số tiền này còn cao cả doanh số bán hàng của DN. Nếu tính toàn bộ tiền cấp quyền thì số tiền đó lớn hơn cả số tiền của toàn bộ dự án đầu tư mà DN đã được phê duyệt và đang thực hiện.
Cũng theo khẳng định của ông Hoài, với các bất cập cơ bản như trên, nếu không có những điều chỉnh thì chắc chắn 100% các đơn vị khai thác và chế biến đá ốp lát, đá làm phụ gia công nghiệp trên địa bàn Quỳ Hợp, Tân Kỳ và các nhà máy bột đá ở khu công nghiệp Nam Cấm sẽ phải đóng cửa!
Bà Đỗ Thị Hồng, Chủ tịch Hội Đá trắng huyện Lục Yên, Yên Bái cũng khẳng định: Phương pháp tính và mức thu tiền cấp quyền khai thác đá trắng dựa trên trữ lượng được cấp trên giấy phép là quá cao, lên đến hàng trăm, hàng ngàn tỷ đồng. Đây là một việc làm không khả thi. Hội Đá trắng Lục Yên đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Địa chính và Khoáng sản bám sát vào thực tế khai thác, sản xuất của DN để xem xét việc tính tiền cấp quyền cho hợp lý, mang tính khả thi, không dồn DN vào chỗ “chết”. Đây cũng là quan điểm của Hội Đá trắng Nghệ An khi nhiều lần gửi đơn đến Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản, Hội đồng Đánh giá Trữ lượng khoáng sản Quốc gia, UBND tỉnh Nghệ An và các cơ quan chức năng.
Phía sau phép “tính thử” của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản là bao nhiêu lao động có nguy cơ mất việc, bao nhiêu DN bị đẩy đến bước đường cùng? Cái gốc của phép “tính thử” này là gì? Chúng tôi sẽ trở lại câu chuyện này để bạn đọc rộng đường dư luận.
Kỳ III: Né nộp tiền cấp quyền và bất cập cần sửa đổi
Đan Quế - Lê Nguyên
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Dù bản án phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật, quyền sử dụng đất hợp pháp đã được xác lập rõ ràng, nhưng đến nay, ông Trịnh Ngọc Lâm (trú tỉnh Đắk Lắk) vẫn chưa thể nhận lại phần đất của mình. Quá trình thi hành án kéo dài, nhiều lần bị “đứng lại”, khiến người thắng kiện rơi vào cảnh mòn mỏi chờ công lý được thực thi.
Thuỳ Anh
(Thanh tra) - Ngày 21/12, Công an tỉnh Thanh Hoá thông tin, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thanh Hóa đã điều tra, làm rõ vụ "người chết" cách đây 5 năm, bỗng sống lại. Quá trình điều tra, xác minh, bằng các biện pháp nghiệp vụ và tinh thần tấn công trấn áp quyết liệt đối với tội phạm, lực lượng công an đã thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ, buộc Nguyễn Thị Thu phải cúi đầu nhận tội và khai nhận hành vi “giả chết” của mình để trục lợi bảo hiểm tại phường Quang, tỉnh Thanh Hoá.
Hương Trà
Trọng Tài
Lê Hữu Chính
Hữu Anh
Quang Dân
Hương Giang
Đăng Tân
Hương Giang
Văn Thanh
Đăng Tân
Văn Thanh
Thu Huyền
Thái Nam
Tin, ảnh: Trang Anh
Nam Dũng
Thanh Lương - Thanh Hoa