Theo dõi Báo Thanh tra trên
Bảo San - Thanh Lương
Thứ ba, 27/01/2026 - 21:30
(Thanh tra) - Chuyên gia Nguyễn Thị Mai Hạnh (Ban Hệ thống Tài khoản quốc gia, Cục Thống kê, Bộ Tài chính) phân tích vì sao việc đánh giá mối quan hệ giữa điện năng và tăng trưởng kinh tế cần vượt qua giới hạn của GDP để nhìn nhận từ hệ thống tài khoản quốc gia, giúp nâng cao chất lượng dự báo chính sách năng lượng.
Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh - Ban Hệ thống Tài khoản quốc gia, Cục Thống kê, Bộ Tài chính. ẢNh: NVCC
Phóng viên: Thưa bà, tại sao trong phân tích kinh tế hiện nay, chúng ta không nên chỉ nhìn vào chỉ số GDP để đánh giá sự tăng trưởng, đặc biệt là khi xét đến các khía cạnh về thu nhập và phúc lợi?
Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh: Bên cạnh GDP, hệ thống tài khoản quốc gia còn cung cấp nhiều chỉ tiêu khác phản ánh các khía cạnh khác nhau của quá trình tăng trưởng kinh tế, như tổng thu nhập quốc dân (GNI), thu nhập quốc dân khả dụng (NDI), tiết kiệm (Saving) hay tích lũy tài sản.
Mỗi chỉ tiêu này đo lường một lát cắt khác nhau của hoạt động kinh tế, và không thể quy giản hoàn toàn về GDP mà không làm mất đi thông tin kinh tế quan trọng.
GNI phản ánh thu nhập mà các chủ thể trong nền kinh tế thực sự nhận được, bao gồm cả thu nhập từ và ra nước ngoài, trong khi GDP chỉ đo lường giá trị gia tăng được tạo ra trong lãnh thổ.
Trong các nền kinh tế có mức độ hội nhập quốc tế cao, chênh lệch giữa GDP và GNI có thể đáng kể, khiến tăng trưởng GDP không đồng nghĩa với sự gia tăng tương ứng về thu nhập quốc dân. Do đó, nếu tăng trưởng kinh tế được hiểu theo nghĩa cải thiện năng lực thu nhập và phúc lợi, thì việc chỉ dựa vào GDP là không đầy đủ.
Tương tự, thu nhập quốc dân khả dụng (NDI) và tiết kiệm phản ánh khả năng phân bổ nguồn lực cho tiêu dùng và tích lũy trong tương lai.
Một nền kinh tế có thể đạt tăng trưởng GDP cao, nhưng nếu phần lớn giá trị gia tăng được sử dụng để bù đắp khấu hao, trả thu nhập ra nước ngoài hoặc tài trợ cho tiêu dùng ngắn hạn, thì khả năng tích lũy và mở rộng năng lực sản xuất trong dài hạn vẫn bị hạn chế.
Trong trường hợp này, tăng trưởng GDP không phản ánh đúng chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng kinh tế. Những khác biệt này cho thấy rằng “tăng trưởng kinh tế” là một khái niệm đa chiều, không thể đồng nhất một cách máy móc với tăng trưởng GDP.
Phóng viên: Thưa bà, từ góc độ của một nhà nghiên cứu, sự thiếu hụt thông tin khi chỉ dùng GDP làm thước đo duy nhất sẽ ảnh hưởng như thế nào đến việc phân tích chính sách năng lượng và điện lực?
Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh: Việc sử dụng GDP như thước đo duy nhất trong phân tích kinh tế - đặc biệt là trong các nghiên cứu liên quan đến năng lượng và điện năng - dễ dẫn đến việc lựa chọn sai biến đại diện cho quy mô hoạt động kinh tế thực tế. Khi điện năng gắn chặt với quá trình sản xuất và tích lũy vật chất, mối quan hệ giữa điện và tăng trưởng kinh tế cần được đặt trong một khuôn khổ rộng hơn, xem xét đồng thời tổng sản lượng, thu nhập, tiết kiệm và cấu trúc sử dụng nguồn lực.
Trong bối cảnh đó, cách tiếp cận dựa thuần túy trên GDP không chỉ hạn chế về mặt khái niệm, mà còn làm nghèo đi khả năng phân tích chính sách.
Một khuôn khổ phân tích nhất quán hơn cần phân biệt rõ các chỉ tiêu tăng trưởng khác nhau trong hệ thống tài khoản quốc gia, qua đó làm rõ khía cạnh nào của tăng trưởng có liên quan trực tiếp đến nhu cầu điện, và khía cạnh nào phản ánh các mục tiêu phúc lợi và tích lũy dài hạn.
Từ góc độ hoạch định chính sách, hệ quả đầu tiên của cách tiếp cận này là rủi ro sai lệch trong dự báo nhu cầu điện. Các mô hình dự báo dựa trên tăng trưởng GDP, nếu không điều chỉnh theo tổng sản lượng và cấu trúc ngành, có thể đánh giá thấp hoặc đánh giá cao nhu cầu điện trong tương lai.
Điều này đặc biệt nguy hiểm đối với các quyết định đầu tư dài hạn trong lĩnh vực điện lực, nơi sai lệch dự báo có thể dẫn đến dư thừa công suất hoặc thiếu hụt nguồn cung, kéo theo chi phí kinh tế và xã hội lớn.
Hệ quả thứ hai liên quan đến việc thiết kế và đánh giá chính sách tiết kiệm năng lượng. Khi hệ số đàn hồi điện/GDP được sử dụng như một chỉ báo hiệu quả, các biến động của chỉ số này dễ bị gán cho nguyên nhân hành vi hoặc công nghệ, trong khi phần lớn có thể bắt nguồn từ thay đổi cơ cấu sản xuất.
Điều này có thể dẫn đến các chính sách can thiệp thiếu trọng tâm, chẳng hạn đặt kỳ vọng quá cao vào các biện pháp tiết kiệm điện trong bối cảnh nhu cầu điện tăng chủ yếu do mở rộng sản xuất trung gian.
Phóng viên: Vậy chúng ta cần một sự thay đổi như thế nào trong phương pháp luận để lượng hóa mối quan hệ giữa tăng trưởng và tiêu thụ điện một cách chính xác hơn, thưa bà?
Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh: Để khắc phục những hạn chế nêu trên, cần một sự điều chỉnh căn bản trong khuôn khổ phân tích chính sách năng lượng.
Trước hết, thay vì đặt GDP ở vị trí trung tâm, phân tích nên xuất phát từ tổng sản lượng và cầu cuối cùng, phù hợp với logic kế toán sản xuất và tiêu thụ năng lượng.
Trong khuôn khổ này, Bảng cân đối liên ngành (Input- Output Table) đóng vai trò then chốt, cho phép liên kết nhu cầu điện của từng ngành với cấu trúc sản xuất của toàn bộ nền kinh tế.
Việc sử dụng các chỉ tiêu như nhu cầu điện cho một đơn vị cầu cuối cùng, hay các hệ số lan tỏa sản lượng của ngành điện, cho phép lượng hóa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ điện một cách nhất quán hơn.
Những chỉ tiêu này không chỉ phản ánh quy mô tăng trưởng, mà còn cho phép phân rã tác động của thay đổi cơ cấu ngành và công nghệ. Qua đó, các nhà hoạch định chính sách có thể đánh giá chính xác hơn nguồn gốc của tăng trưởng nhu cầu điện, thay vì dựa vào các chỉ báo tổng hợp khó diễn giải.
Bên cạnh đó, việc tích hợp phân tích Bảng cân đối liên ngành với hệ thống tài khoản quốc gia cũng góp phần nâng cao tính nhất quán giữa các mục tiêu kinh tế và năng lượng.
Khi các kịch bản phát triển kinh tế được xây dựng đồng thời với các kịch bản nhu cầu điện trên cùng một nền tảng kế toán, rủi ro mâu thuẫn nội tại giữa các chính sách vĩ mô sẽ được giảm thiểu. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Việt Nam theo đuổi đồng thời nhiều mục tiêu, từ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu đến giảm phát thải.
Một quá trình hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng đòi hỏi sự chấp nhận của những khuôn khổ phân tích phức tạp hơn, nhưng phản ánh đúng bản chất kinh tế hơn.
Phóng viên: Rất cảm ơn những chia sẻ sâu sắc của bà!
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Việc xây dựng nghị định mới về cơ chế hoạt động và quản lý tài chính của Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam (DATC) không chỉ nhằm tháo gỡ các vướng mắc thực tiễn mà còn đặt mục tiêu trọng tâm vào công tác giám sát, kiểm tra, đảm bảo tính công khai và minh bạch nhằm phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực xử lý nợ đặc thù.
Trang Huy
(Thanh tra) - Chuyên gia Nguyễn Thị Mai Hạnh (Ban Hệ thống Tài khoản quốc gia, Cục Thống kê, Bộ Tài chính) phân tích vì sao việc đánh giá mối quan hệ giữa điện năng và tăng trưởng kinh tế cần vượt qua giới hạn của GDP để nhìn nhận từ hệ thống tài khoản quốc gia, giúp nâng cao chất lượng dự báo chính sách năng lượng.
Bảo San - Thanh Lương
Thiên Tâm
Nguyễn Điểm
Quang Vinh
T.Vân
Thái Nam
T. Minh
Văn Thanh
Văn Thanh
Hải Hà
Thanh Nhung
Minh Nguyệt
Nhóm PV Bản tin Thanh tra
Trần Kiên
Hải Hà
Nam Dũng
Thanh Lương