Theo dõi Báo Thanh tra trên
Thứ ba, 22/08/2017 - 09:28
(Thanh tra)- Là một trong những nội dung quy định tại Nghị định số 33 quy định việc thực hiện kết luận thanh tra (KLTT).
Về trình tự, thủ tục đôn đốc, Nghị định quy định, hoạt động đôn đốc việc thực hiện KLTT được tiến hành bằng hình thức gửi văn bản đôn đốc hoặc làm việc trực tiếp với đối tượng đôn đốc.
Trường hợp gửi văn bản đôn đốc, chậm nhất là 5 ngày, kể từ ngày được giao việc đôn đốc, người được giao việc đôn đốc có trách nhiệm đề xuất văn bản đôn đốc trình thủ trưởng cơ quan Thanh tra Nhà nước, thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành gửi đối tượng đôn đốc.
Trường hợp làm việc trực tiếp, chậm nhất là 5 ngày, kể từ ngày được giao việc đôn đốc, người được giao việc đôn đốc có trách nhiệm đề xuất kế hoạch làm việc và văn bản thông báo trình thủ trưởng cơ quan Thanh tra Nhà nước, thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành gửi đối tượng đôn đốc.
Trong thời hạn 25 ngày, kể từ ngày được giao việc đôn đốc, người được giao việc đôn đốc có trách nhiệm báo cáo kết quả đôn đốc với thủ trưởng cơ quan Thanh tra Nhà nước, thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Báo cáo gồm quá trình đôn đốc; tình hình, tiến độ thực hiện KLTT; kết quả thực hiện KLTT sau khi đôn đốc; đánh giá chung và đề xuất giải pháp thực hiện kết luận thanh tra.
Trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả đôn đốc việc thực hiện KLTT, thủ trưởng cơ quan Thanh tra Nhà nước, thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành căn cứ kết quả đôn đốc để quyết định kết thúc việc đôn đốc và lưu trữ hồ sơ đôn đốc theo quy định hiện hành nếu việc thực hiện KLTT đã hoàn thành; tiến hành kiểm tra theo quy định tại Nghị định này nếu việc thực hiện KLTT chưa hoàn thành.
Kết quả và việc xử lý kết quả đôn đốc việc thực hiện KLTT được thông báo đến đối tượng đôn đốc và công khai theo quy định của pháp luật. Thủ trưởng cơ quan Thanh tra Nhà nước, thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành ra quyết định kiểm tra khi hết thời hạn phải thực hiện KLTT, yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra mà đối tượng đôn đốc không hoàn thành việc thực hiện; đối tượng đôn đốc không thực hiện trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện KLTT theo quy định của pháp luật; quá trình theo dõi, đôn đốc phát hiện đối tượng theo dõi, đôn đốc có dấu hiệu tẩu tán tài sản, tiêu hủy tài liệu, không hợp tác, cản trở hoặc có hành vi vi phạm pháp luật khác.
Việc kiểm tra được thực hiện khi có quyết định kiểm tra của thủ trưởng cơ quan Thanh tra Nhà nước, thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Quyết định kiểm tra phải ghi rõ căn cứ ra quyết định; đối tượng, nội dung, phạm vi, thời hạn kiểm tra; người được giao nhiệm vụ kiểm tra.
Chậm nhất là 3 ngày kể từ ngày ký, quyết định kiểm tra phải được gửi cho người được giao nhiệm vụ kiểm tra và đối tượng kiểm tra. Chậm nhất là 5 ngày làm việc, kể từ ngày ký quyết định thì người được giao nhiệm vụ kiểm tra phải tiến hành kiểm tra.
Thời hạn kiểm tra việc thực hiện KLTT tối đa là 5 ngày kể từ ngày bắt đầu kiểm tra. Nếu nội dung kiểm tra phức tạp, phạm vi kiểm tra rộng thì thời hạn kiểm tra tối đa là 10 ngày, kể từ ngày bắt đầu kiểm tra.
Thời hạn kiểm tra việc thực hiện nhiều KLTT tối đa là 10 ngày tính từ ngày bắt đầu kiểm tra. Nếu nội dung kiểm tra phức tạp, phạm vi kiểm tra rộng thì thời hạn kiểm tra là 20 ngày, kể từ ngày bắt đầu kiểm tra.
Chậm nhất là 3 ngày kể từ ngày kết thúc kiểm tra, người được giao nhiệm vụ kiểm tra có trách nhiệm báo cáo kết quả kiểm tra với thủ trưởng cơ quan Thanh tra Nhà nước, thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành.
Báo cáo phải đánh giá tình hình, kết quả kiểm tra; kết luận về nội dung kiểm tra; kiến nghị các biện pháp xử lý hành vi vi phạm pháp luật và các nội dung liên quan đến đảm bảo việc thực hiện KLTT.
Căn cứ kết quả kiểm tra, thủ trưởng cơ quan Thanh tra Nhà nước, thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành có trách nhiệm yêu cầu thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp của đối tượng kiểm tra áp dụng biện pháp theo thẩm quyền buộc đối tượng kiểm tra hoàn thành việc thực hiện KLTT; áp dụng theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật; chuyển vụ việc sang cơ quan điều tra có thẩm quyền để xem xét, khởi tố vụ án nếu phát hiện dấu hiệu tội phạm liên quan đến việc thực hiện kết luận thanh tra; quyết định thanh tra lại hoặc đề nghị thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước cùng cấp quyết định thanh tra lại theo quy định của pháp luật về thanh tra nếu phát hiện KLTT, văn bản chỉ đạo, yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra có dấu hiệu vi phạm pháp luật; báo cáo và đề nghị thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền xem xét, xử lý trường hợp có căn cứ xác định đối tượng kiểm tra không có khả năng thực hiện KLTT, văn bản chỉ đạo, yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra.
Kết quả và việc xử lý kết quả kiểm tra thực hiện KLTT được thông báo đến đối tượng kiểm tra và công khai theo quy định của pháp luật.
B.B.Đ
Ý kiến bình luận:
Hiện chưa có bình luận nào, hãy trở thành người đầu tiên bình luận cho bài biết này!
(Thanh tra) - Xây dựng cơ sở dữ liệu lớn và ứng dụng AI trong lĩnh vực pháp luật được đánh giá là yêu cầu cấp thiết nhằm số hóa toàn bộ quy trình xây dựng văn bản, nâng cao chất lượng thi hành pháp luật, giảm mâu thuẫn, chồng chéo và hình thành hệ sinh thái dữ liệu pháp lý hiện đại, dùng chung.
Minh Nguyệt
(Thanh tra) - Sau 15 năm thực hiện, Luật An toàn Thực phẩm năm 2010 đã bộc lộ những bất cập, chồng chéo trong công tác quản lý giữa các ngành. Dự thảo chính sách của Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đề xuất thiết lập một cơ quan đầu mối thống nhất từ trung ương đến địa phương nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý.
Minh Nguyệt
Nam Dũng
Hải Hà
Trang Nguyệt
Trần Kiên
Nhóm PV Bản tin Thanh tra
Hải Hà
T. Minh
Đăng Tân
Thanh
Lan Anh
Văn Thanh
Theo TTXVN
Trần Kiên
Hương Giang